Chúc Mừng Năm Mới

Kinh Dịch & bói toán

Quẻ Trạch Địa Tụy trong cuộc sống dạy tụ họp đúng người rồi mới tiến

Trong 64 quẻ Kinh Dịch, quẻ 45 Trạch Địa Tụy với tượng nước đầm tụ trên mặt đất thuộc loại quẻ Cát, chủ về tụ họp, đoàn tụ và hanh thông. Bài giảng quẻ này bằng chuyện đời: đổi nghề, góp vốn, tình duyên, và những lúc nên tiến hay nên dừng.

12 phút đọc

Nước đầm nằm yên trên mặt đất, thấm dần xuống dưới và nuôi cây cỏ quanh bờ. Nhìn cảnh ấy, người xưa đặt tên cho quẻ 45 Trạch Địa Tụy trong cuộc sống: Tụy là tụ họp, quần tụ, muôn vật quy về một mối. Đây là quẻ Cát, nghĩa là quẻ tốt, nhưng tốt theo cách riêng của nó.

Quẻ này nói về lúc nhiều người quy tụ dưới một chủ đích chung, chứ chẳng phải chuyện một người tự gánh việc một mình. Ai vừa gieo được quẻ này trên trang tra cứu quẻ Trạch Địa Tụy thường đang đứng trước một việc cần người đồng lòng: góp vốn làm ăn, cưới hỏi, hay dựng lại một nhóm bạn cũ cùng làm một chuyện.

Quẻ Trạch Địa Tụy và tượng đầm trên đất, rồng gặp mây

Quẻ Trạch Địa Tụy gồm hai quẻ đơn chồng lên nhau. Ở trên là Đoài, tượng đầm, mặt nước; ở dưới là Khôn, tượng đất, sự vâng phục và chịu đựng. Nước đọng trên mặt đất thành hồ thành đầm, muôn vật quanh đó quy về mà sống, nên người xưa gọi đây là tượng của sự tụ họp, ghép tên hai quẻ đơn thành Trạch Địa Tụy.

Trong chuỗi 64 quẻ, quẻ Tụy đứng ngay sau quẻ Cấu, và mối liên hệ ấy có lý của nó: Cấu là gặp gỡ, có đụng gặp nhau rồi mới thành bầy, thành bầy tất nhiên phải nhóm họp. Theo Phan Bội Châu trong Quốc Văn Chu Dịch Diễn Giải, quẻ Tụy còn ứng với tháng 6, mùa giữa năm khi vạn vật sum vầy.

Một tổ ong gợi lại đúng tượng này: từng con ong riêng lẻ, không con nào nổi bật, nhưng tập hợp thành một khối có trật tự, có tổ, có việc chung. Quẻ Tụy cũng được liên hệ với những cảnh đời thường như thế: một bó hoa cài chung lại, tổ kiến, thậm chí việc thu gom rác rưởi thành một đống có nơi có chốn. Điều chung của các hình ảnh ấy là nhiều phần tử khác nhau được gom về một khối, và khối đó phải có tổ chức, nếu không sẽ thành hỗn loạn.

Cách nói khác của tượng quẻ là rồng mây giao hội. Rồng mà không có mây thì không bay được, mây mà không có rồng thì trôi vô định; gặp nhau mới thành thời thế. Tụy nghĩa là gom lại, kết hợp, đoàn tụ, và ở tầng vui hơn, Đoài trên là hạnh phúc vui hưởng, Khôn dưới là tùng phục nghe lời, nên sự tụ họp của quẻ này mang sắc thái đông vui, thuận hòa.

Muốn tụ người, trước hết tụ lòng

Lời quẻ nói thẳng một điều kiện: muốn quy tụ dân chúng, phải có người lãnh đạo giỏi và tốt, tâm phải chính nghĩa, đạo lý. Thoán từ còn cảnh báo rằng kẻ gian manh cũng có thể vì lợi lộc mà kết thành nhóm, nhưng điều nhóm ấy làm là hại thiên hạ. Đại ý cả quẻ, theo cách luận giải phổ biến, là muốn họp người, dựng một đoàn thể, thì người đứng ra phải là bậc có địa vị, có tài, có đức, có lòng chí thành và một chủ trương chính đáng.

Tụ họp trong quẻ này cũng có nhiều tầng. Tụ nhỏ nhất là gia đình sum vầy quanh mâm cơm; tụ lớn hơn là nhóm bạn cùng làm một việc; tụ đến mức lớn nhất là đoàn thể, quốc gia. Có tụ họp mới đi tới hanh thông, mọi chuyện mới giải quyết được, nên quẻ 45 thuộc loại quẻ Cát. Nói thẳng ra, một mình gồng thì việc nhỏ, đông lòng mới làm được việc lớn.

Sự tụ họp trong quan niệm xưa còn mang tính nghi lễ, không phải việc tùy tiện. Nhóm họp cần long trọng, tỏ lòng chí thành, tế lễ phải hậu hĩ thì mới tốt, sự nghiệp mới lâu dài; thoán từ tả cảnh quẻ hanh thông bằng hình ảnh vua đến Thái miếu dâng lễ, ra mắt đại nhân thì lợi. Hiểu bằng cách nói ngày nay: việc chung muốn bền thì phải được bắt đầu bằng sự nghiêm túc, có chuẩn bị, chứ đừng họp cho có mặt.

Phan Bội Châu nhấn mạnh một chữ: trong đạo nhóm họp, tất cốt ở chí thành. Nhóm họp là việc khó khăn và huyền bí, không gọi điện mời họp là xong, mà phải lấy lòng thành thực làm mối dây. Tục ngữ Việt có câu một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, ý cũng về sức đông, nhưng quẻ Tụy đi xa hơn: ba cây chụm được là vì có mối dây thật giữa chúng.

Thoán Truyện còn rút ra một phép nhìn người thú vị: đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Cứ xem ai hợp đoàn với ai sẽ biết tình ý họ; nhà thơ tìm bạn họa thơ, người đạo đức giao du với người đạo đức. Áp vào đời thường, cách chọn người để chơi, để làm việc chung của một người nói lên nhiều về chính người đó hơn bất cứ lời tự giới thiệu nào.

Câu chuyện Lưu Bị thời Tam Quốc minh họa rõ cái đầm trong tượng quẻ. Lưu Bị ban đầu không có đất đai, không có quân đội hùng mạnh, nhưng nhờ có đức nhân, biết khiêm tốn, chiêu hiền đãi sĩ, dần dần quy tụ được Gia Cát Lượng, Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân về dưới trướng. Cái đầm Lưu Bị tạo ra là sự tin trọng, để nhân tài tự nguyện đổ về.

Ngược lại, Viên Thiệu là bài học cho tụ họp thiếu đức. Ông nhờ công lao tổ tiên được bầu làm minh chủ chống Đổng Trác, có đủ điều kiện khách quan để tụ họp người, từ danh vọng đến dòng dõi, nhưng tham lam, thiếu đức, thiếu tài, nên cuối cùng đoàn quân tan rã, việc hỏng. Hai chuyện đối chiếu nhau cho thấy lời quẻ không khoe về số đông, mà hỏi về chất lượng của mối nối giữa những người trong số đông.

Một bà lão tóc bạc đứng bên bàn gỗ, tay chạm khay quả, cạnh bình hoa vàng và hai cây nến đỏ, sáng cửa sổ
Ảnh minh họa

Quẻ 45 với công việc, tiền bạc

Về công danh, quẻ 45 Trạch Địa Tụy cho thấy vận số thịnh vượng: công ty hay tổ hợp đều thành công, công danh sự nghiệp thăng tiến, và nếu đang định đổi nghề hay tìm việc làm mới thì có thể khởi sự ngay. Một người phân vân có nên rời chỗ cũ hay không, gặp quẻ này thì thời thế thuận cho việc bắt đầu ở nơi mới, nhưng lời quẻ cũng dặn rõ: tốt nhất là làm theo sự chỉ đạo của một người cao tuổi, người có kinh nghiệm dìu dắt thì thành công và giàu.

Về tiền bạc, các bản luận quẻ nói khác nhau nên không nên lấy một câu làm chắc. Một bên ghi tài lộc dồi dào, hỷ sự đã đến, thần tài gõ cửa, thời đến cản không được; bên khác lại nói tiền tài và của cải vất vả nhưng có đủ và còn dư để dành dụm. Điểm chung của hai cách nói là đều dư, khác ở mức độ nhọc nhằn. Người gieo quẻ nên đọc cả hai như một lời nhắc: của tụ về thì có thật, nhưng đó là của làm ra trong đám đông đồng lòng, chứ chẳng phải của rơi từ trời xuống.

Một bản luận quẻ còn mô tả sự tận tụy vô bờ bến với công việc sẽ được trả công xứng đáng, ví như cá chép hóa rồng. Nghĩa là trong quẻ Trạch Địa Tụy trong cuộc sống, tiền bạc đến gắn với việc mình dồn tâm sức vào việc chung, chứ không đến với người ngồi chờ đám đông kéo tới.

Bản luận quẻ ấy cũng dành vài dòng cho chuyện đi xa: viễn du lý thú, lợi phương Nam, tốn kém phương Tây, còn phương Đông thì dễ bị ốm đau dọc đường. Người hay đi công tác hay làm ăn xa có thể đọc đoạn này như một lưu ý chung về chuẩn bị sức khỏe và chi tiêu cho chuyến đi, chứ không nên lấy đó để quyết định hẳn hướng đi.

Đọc thêm: Quẻ Trạch Lôi Tùy trong cuộc sống dạy thuận theo đúng người, đúng thời

Tình duyên và gia đình sum vầy

Trong chuyện tình cảm, quẻ này được đánh giá rất tốt: tình yêu hai bên tâm đầu ý hợp, thương yêu nhau, cưới hỏi thuận lợi, gia đình thịnh vượng, đầm ấm, được họ hàng hai bên vun vén. Nơi đông vui hội họp, tiệc tùng, đám cưới, lớp học, chính là chỗ duyên dễ nảy sinh; chân thành và cởi mở thì dễ tìm được người hợp mình.

Tuy nhiên có một chi tiết nên để ý: một bản luận quẻ nói duyên sẽ thành lương duyên nhưng phải theo đuổi thời gian dài mới nên. Với một cặp đôi đã bên nhau lâu năm mới tính đến chuyện cưới, quẻ này đọc ra như thế rất khớp: tình cảm vững, gia đình hai bên thuận, nhưng chuyện thành đôi cần thời gian nuôi, không nên vội tính ngày tháng chắc chắn.

Nơi đông người cũng có mặt trái của nó. Việc tụ nhóm người đông thường sinh ra nghi kỵ, tranh nhau, nên cần đề phòng hậu họa tiềm ẩn; riêng chuyện có tranh chấp thì các bản luận khuyên nên hòa giải là hơn, chỉ có lợi cho ta, thuận lợi nhỏ nhưng bình an. Gia đình đông thành viên, họ hàng nhiều mặt, càng nên giữ nguyên tắc ấy: nhường một chút để giữ được sự sum vầy, vốn là điều quẻ Tụy quý nhất.

Hai người đàn ông trẻ ngồi quay lưng lại bên bàn gỗ tròn, mỗi người một tách trà, trên bàn có đĩa và vài phong bao đỏ
Ảnh minh họa

Lúc nên tiến, lúc nên dừng

Sáu hào của quẻ vẽ ra từng nấc của một cuộc tụ họp, và chính ở đây quẻ Trạch Địa Tụy trong cuộc sống nói lời hữu dụng nhất. Hào thứ nhất, ở dưới cùng, khuyên: nếu lầm nhập vào bọn tiểu nhân, biết lầm mà kêu gọi người tin mình, dù bị cả bầy cười chê cũng không có lỗi. Đời thường hóa ra là khi nhận ra mình đang tụ họp sai bầy, hãy dứt khoát quay về với người xứng đáng, kệ lời xì xào.

Hào thứ hai khuyên kéo cả bầy cùng lên nhóm với hào năm, người xứng đáng, thì tốt và không lỗi, nhưng phải chí thành; chí thành thì như việc cúng tế dùng lễ mọn cũng đủ. Dương Tái Công là ví dụ cho nấc này: ông kéo cả bầy thủy khấu đầu hàng Nhạc Phí, một hành động tụ họp dựa trên uy tín và lòng trung thành, không phải bằng lời hứa suông hay phần thưởng lấp miệng.

Hào năm là nấc quan trọng nhất của quẻ, ngôi của người lãnh đạo.1 Ở vị trí ấy, nếu vẫn còn người chưa tin, người cầm quyền phải giữ cho xứng vai nguyên thủ: giữ người được lâu, giữ đạo chính được bền, như vậy mới không hối hận. Bài học cho người cầm quyền nằm ở đó: càng ở cao, càng phải tu đức, vì đám đông tụ về một chỗ phần lớn là tụ về người đứng đầu.

Hai hào còn lại đánh dấu lúc nên dừng. Hào bốn dương cương nhưng bất chính, lại đứng gần nhóm người nhu nhược ở dưới, nên phải thuyết phục được nhóm ấy theo hào năm mới khỏi lỗi; khi xem tuế vận, quan chức gặp hào này nên phòng nghi ngờ, biết bỏ cao xuống thấp, lui về đúng lúc thì hay. Hào sáu, cuối thời Tụy, vô tài vô vị mà muốn tụ họp thiên hạ chỉ thêm lo sợ, than thở sụt sùi; gặp hào này thì tiến lên chẳng ổn, việc nhiều rắc rối, danh lợi thành hư, nên an phận, không gồng mình tụ hợp.

Một chuyện Việt thế kỷ XVIII cho thấy tụ họp thiếu đạo nghĩa ra sao. Nguyễn Hữu Chỉnh chẳng lấy được lòng tin của Tây Sơn, dân Bắc Hà lại phỉ nhổ; gom người mà thiếu đạo nghĩa, thiếu lòng tin, thì chỉ là tập hợp tạm bợ, sớm tan rã. Đặt cạnh hào ba, chuyện này là lời nhắc: đứng giữa đám đông mà không giữ được lòng tin thì đừng cố gồng.

Đọc thêm: Nhân Mã khi yêu thật lòng chung thủy, tình cảm chỉ nên thể hiện 60%

Gieo quẻ có hào động thì đọc thế nào

Khi gieo quẻ bằng ba đồng xu mà có hào động, người xem đọc thêm lời của hào động ấy để biết tình huống cụ thể của mình: hào động ở vị nào, lời khuyên của hào đó chính là điểm cần lưu ý nhất lúc này. Quẻ cho bức tranh chung của thời thế, hào động chỉ cho chỗ mình đang đứng trên bức tranh ấy.

Ví dụ rõ nhất là người xem tuế vận gặp hào bốn động: nên phòng nghi ngờ, biết bỏ cao xuống thấp, lui về đúng lúc thì hay. Nếu hào một động thì ý ngược lại: đó là lúc dứt khoát rời bầy sai để tiến về người tin mình. Cần đọc nguyên lời từng hào thì có thể tra trên trang gieo quẻ Kinh Dịch rồi đối chiếu với tình huống thật của mình.

Một bà cụ tóc bạc ngồi quay lưng bên chiếc bàn gỗ thấp, một tay giữ sổ mở, tay kia cầm bút viết, trên bàn có ba đồng xu cổ
Ảnh minh họa

Ba dấu hiệu của thời Tụy

Ngoài sách vở, làm sao biết mình đang ở thời Tụy, thời điểm tụ họp được? Cách nhận biết gồm ba dấu hiệu: có một nhân vật trung tâm có uy tín, có đức, có khả năng quy tụ; các bên tự nguyện tìm đến nhau vì thấy có lợi, có giá trị chung chứ không bị ép buộc; và có sự hài hòa giữa trên với dưới, không xung đột lợi ích gay gắt. Đủ cả ba thì việc chung có thể tiến; thiếu dấu hiệu đầu thì đám đông không có mối, thiếu dấu hiệu sau thì tụ rồi cũng tan.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com