Chúc Mừng Năm Mới

Phong tục

Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu qua tấm bia chùa Đọi

Trên tấm bia đá chùa Đọi dựng năm 1121, câu mở đầu viết: “Trung Thu cảnh đẹp, muôn việc rảnh rang”. Đó là dấu xưa nhất còn lại về nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu ở Việt Nam. Từ đó, ta mới lần theo được câu chuyện của đêm rằm tháng Tám.

12 phút đọc

Trên tấm bia đá cổ nhất còn lại về Tết Trung Thu ở Việt Nam, dựng tại chùa Đọi (Hà Nam) năm 1121, có câu mở đầu: “Trung Thu cảnh đẹp, muôn việc rảnh rang”. Chín thế kỷ sau, đêm rằm tháng Tám vẫn là đêm cả gia đình bày cỗ, thắp đèn và nhìn lên vầng trăng tròn nhất năm.

Vậy nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu là gì? Đó là tết của ngày rằm tháng Tám âm lịch, khi trăng tròn giữa mùa thu, mang ý nghĩa đoàn viên, mừng mùa màng và là ngày vui của trẻ em. Tuy nhiên, câu chuyện đằng sau nó phức tạp hơn vầng trăng nhiều: người Việt vẫn tranh luận xem tết này là của mình hay mượn của người. Giữa những bản tích đan xen còn có chỗ chép lệch tên vua, đáng để làm rõ.

Một tết, bốn cái tên

Người Việt gọi đêm rằm tháng Tám bằng nhiều tên, mỗi tên chỉ một mặt của ngày hội. Tết đoàn viên vì trăng tròn là biểu tượng sum họp; Tết trông trăng vì đêm đó cả làng ngắm trăng, phá cỗ; Tết hoa đăng vì đèn lồng thắp khắp nơi; Tết thiếu nhi vì trẻ em là người hưởng trọn niềm vui. Đây là một trong bốn lễ tết lớn của người Việt.3

Cái tên Trung Thu nghĩa đen là giữa mùa thu, và ngày rằm tháng Tám đúng là nằm giữa thu. Về thời điểm, năm 2025 tết này rơi vào thứ Hai, ngày 6 tháng 10 dương lịch. Những năm khác, ngày 15 tháng 8 âm lịch rơi quanh khoảng giữa tháng 9 đến đầu tháng 10 dương lịch.5

Điều đáng buồn cho người tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu: không có sử liệu nào nói rõ gốc tích của ngày lễ rằm tháng Tám ở nước ta. Tết Trung Thu tại Việt Nam không biết có tự bao giờ. Chính khoảng trống ấy khiến câu chuyện nguồn gốc trở nên thú vị.

Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu: hai luồng giải thích

Vậy nên hiểu nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu theo hướng nào? Hiện có hai luồng giải thích, và đến nay chưa bên nào thắng bên nào.

Luồng thứ nhất cho rằng tết này du nhập từ Trung Quốc. Người Hoa đã ăn mừng thu hoạch vào ngày trăng tròn mùa thu kể từ thời Thương, khoảng 1600 đến 1046 trước Công nguyên. Chữ Trung Thu xuất hiện đầu tiên trong Chu Lễ, bộ sách tổng hợp nghi lễ từ thời Tây Chu.5 Trong triều đình, đây là lễ tế thần Thái Âm Tinh Quân, vị thần Mặt Trăng quan trọng trong Đạo giáo. Đến thời Đường, lễ hội lan ra khắp dân gian, rồi theo đường ấy vào Việt Nam.

Luồng thứ hai tin Tết Trung Thu là của văn minh nông nghiệp người Việt.1 Theo một số nhà khảo cổ học, cảnh đón tết này đã được in trên mặt trống đồng Ngọc Lũ có niên đại khoảng 2500 năm, sớm hơn nhiều so với văn bia chùa Đọi năm 1121. Người Việt sống bằng lúa nước, mùa thu là lúc nhà nông thảnh thơi nhất năm. Mở hội ăn mừng vào thời điểm ấy, hợp lý.

Giữa hai luồng ấy có một chi tiết đáng dừng lại. Truyền thuyết Trung Hoa về đêm lên cung trăng tồn tại hai dị bản. Một bản kể thời vua Duệ Tông, niên hiệu Văn Minh, có tiên nhân hóa thành ông lão đầu bạc, tạo cầu vồng nối đất với cung trăng, đưa nhà vua lên dạo chơi cung Quảng; về sau nhà vua đặt ra tết Trung thu. Bản khác kể vua Đường Minh Hoàng (713-741) đêm rằm tháng Tám gặp đạo sĩ La Công Viễn, được đưa lên cung trăng. Về triều, vua cho chế khúc Nghê Thường Vũ Y và lệnh dân gian rước đèn, bày tiệc hằng năm.

Hai bản tích nghe như hai vị vua khác nhau, nhưng thực chất là một câu chuyện bị chép lệch tên. Bản sự tích do nhà văn Toan Ánh sưu tầm trong Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam tự mâu thuẫn ngay trong cùng đoạn: mở đầu viết “thời vua Duệ Tông, niên hiệu Văn Minh”, nhưng vài dòng sau lại gọi nhân vật là “Minh Hoàng” được chúa tiên tiếp rước lên cung trăng. Lịch sử cũng giải thích được sự lẫn lộn này. Đường Duệ Tông tên thật là Lý Đán, ở ngôi hai lần; năm 712 ông nhường ngôi cho thái tử Lý Long Cơ, tức Đường Minh Hoàng.7 Cha con hai vị nối ngôi liền kề, nên người kể chuyện sau này dễ gán lẫn tên. Ai đọc thấy hai bản tích khác nhau mà băn khoăn thì có thể yên tâm: đó chỉ là một câu chuyện.

Còn về luồng nào đúng, các nhà nghiên cứu vẫn chưa kết luận được tết này sinh ra từ nghề nông của người Việt hay theo văn hóa Trung Hoa mà vào. Không có nguồn uy tín nào phán quyết dứt khoát, và có lẽ không cần: một ngày hội đã sống ở đây chín thế kỷ trên bia đá thì cũng đã thành của người Việt.

Một phụ nữ ngồi quay lưng bên cửa sổ đêm, rót trà vào chén, trên bàn gỗ có ấm trà và đĩa bánh nướng, ngoài kia trăng sáng
Ảnh minh họa

Tết của mùa thu hoạch

Vì sao lại chọn rằm tháng Tám, chứ không phải trăng tròn tháng nào khác? Câu trả lời nằm trong lịch làm việc của người cày ruộng.

Việt Nam là nước nông nghiệp. Đến tháng Tám âm lịch, gieo trồng đã xong, thời tiết dịu đi, không còn nắng gắt hay mưa dầm. Văn bia chùa Đọi năm 1121 gọi thời điểm này là “muôn vật thảnh thơi”.4 Đúng vào lúc ấy người ta mở hội cầu mùa, ca hát vui chơi, vừa ăn mừng vụ vừa cầu cho mùa sau mưa gió thuận hòa, mùa màng bội thu. Nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu của người Việt vì thế gắn chặt với nền văn minh nông nghiệp: đó là điểm nghỉ giữa hai mùa vụ.

Mùa thu với người Lạc Việt xưa còn mang một nghĩa khác. Sách Thái Bình hoàn vũ ký chép rằng cứ mùa thu tháng Tám, người Lạc Việt mở hội, trai gái gặp gỡ nhau, ưng ý nhau thì nên vợ nên chồng.4 Mùa thu vì thế còn là mùa của thành hôn. Đêm hội dưới trăng vừa là lễ cầu mùa, vừa là dịp để những đôi lứa gặp gỡ, một lớp ý nghĩa mà ít ai nhắc đến ngày nay.

Đọc thêm: Cả nhà cùng vẽ tranh ngày Tết đơn giản, từ cành mai đến nồi bánh chưng

Bánh tròn và mâm cỗ

Trên mâm cỗ Trung thu, chiếc bánh là linh hồn.2 Ở Trung Quốc, tục ăn bánh hình mặt trăng có từ thời Bắc Tống, cách nay trên một nghìn năm. Chiếc bánh được gọi là bánh “đoàn viên” vì dịp này cả gia đình tụ họp cùng ăn, cùng thưởng trăng. Sang Việt Nam, ý nghĩa ấy giữ nguyên: bánh trung thu tượng trưng sự đoàn viên, không thể thiếu để cúng trăng và cúng người thân đã khuất.

Bánh có hai dòng. Bánh nướng vỏ vàng, thường theo vị mặn với nhân lạp xưởng, lòng đỏ trứng; bánh dẻo vỏ trắng mềm, theo vị ngọt với nhân đậu xanh hoặc đậu đỏ. Ban đầu bánh làm hình tròn để tượng trưng sự đoàn kết, sau dần biến thành hình vuông chỉ vì tiện xếp hộp, bốn chiếc một hộp. Trên mâm cỗ, bánh nướng và bánh dẻo hình vuông, hình tròn đặt cạnh nhau còn được hiểu là đất và trời hòa hợp.

Mâm cỗ xưa có những món chơi mà hôm nay nhiều người chỉ còn nghe kể. Ông tiến sĩ giấy được đặt ở nơi cao đẹp nhất của mâm, như một lời chúc con cháu học hành đỗ đạt; quanh ông là bánh trái hoa quả bày đầy. Mâm cỗ xưa thường có con chó làm từ tép bưởi, mắt đậu đen, xung quanh là hoa quả, bánh nướng, bánh dẻo. Thiếu một mâm như vậy, đêm rằm ở nhà xưa coi như chưa trọn.

Ngày nay mâm cỗ có thể giản hơn. Một mâm cỗ nhà phố chỉ cần một cặp bánh nướng, bánh dẻo, vài loại quả và đèn ông sao vẫn giữ đủ tinh thần đoàn viên. Việc cần làm là cả nhà ngồi lại với nhau dưới ánh trăng, chứ không phải mâm càng đầy càng tốt.

Một đứa trẻ đi chân trần trên con ngõ đất tối, tay giơ cao một chiếc đèn sao phát sáng
Ảnh minh họa

Đêm rước đèn và trống quân

Sau khi phá cỗ là lúc phố xá rộn ràng nhất, và mỗi trò chơi đều có một câu chuyện gốc.

Tục rước đèn được Phan Kế Bính ghi trong sách Việt Nam phong tục, có từ đời nhà Tống.5 Đời vua Tống Nhân Tông có con cá chép thành yêu, đêm trăng hiện thành con gái hại người; Bao Công hạ lệnh dân gian làm đèn hình con cá đem ra đường để yêu sợ mà không dám hại ai. Tích đèn cá ấy cho thấy đêm rước đèn từ xưa đã mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu, giữ cho làng xóm bình an.

Tục hát trống quân cũng được ông ghi lại, gắn với đời vua Quang Trung.5 Khi đem quân ra Bắc, quân sĩ nhớ nhà, Nguyễn Huệ bày cho đôi bên giả làm trai gái hát đối đáp, đánh trống làm nhịp, nên gọi là trống quân. Một trò chơi dân dã mà gốc là lời an ủi của người lính xa nhà.

Múa lân, miền Bắc gọi là múa sư tử, thường tổ chức trước tết nhưng nhộn nhịp nhất hai đêm 14 và 15 tháng Tám.5 Con lân trong múa tượng trưng sự may mắn, thịnh vượng và điềm lành cho mọi nhà, nên nhà nào cũng muốn nó ghé qua. Trẻ em đêm rằm rước đèn, rước sư tử, nhảy ô, kéo co; người lớn uống trà, ngắm trăng, phá cỗ.

Và trên vầng trăng là chú Cuội. Dân gian kể tiều phu Cuội tìm được cây đa quý có phép cải tử hoàn sinh, bứng về trồng. Một lần vợ Cuội tưới nhầm nước bẩn khiến cây bật gốc bay lên trời; Cuội vội níu lấy, bị cây kéo theo lên tận cung trăng. Đêm trăng rằm nhìn lên, vệt đen trên mặt trăng giống hình cây đa có người ngồi dưới gốc, đó là chú Cuội.1 Trẻ em Việt Nam từ xưa hát đồng dao về chú Cuội và rước đèn trong đêm Trung thu, vừa để chú nhìn thấy quê hương, vừa an ủi nỗi nhớ nhà của chú. Một trò chơi, một bản tích, nhưng đều nói cùng một điều: đêm rằm là đêm của người ở lại và người xa nhà.

Ai ở chung cư không cần ra đường xa. Cho trẻ rước đèn một vòng sân chung cư vào tối 14 vẫn giữ được nếp, an toàn và đủ vui.

Đọc thêm: Lưu ý khi cúng rằm Trung Thu và cách bày mâm ngũ quả

Từ tết người lớn đến tết thiếu nhi

Tết Trung Thu ban đầu là tết của người lớn: ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối bày cỗ thưởng trăng với bánh mặt trăng và hoa quả, như Phan Kế Bính chép về người Việt thế kỷ 19.5 Dần dần trọng tâm dịch chuyển, và ở Việt Nam ngày hội trở thành Tết Trẻ Em, hay Tết Nhi Đồng như cách gọi của người xưa.

Sự chuyển mình ấy dễ hiểu. Người lớn có bao ngày hội trong năm, còn trẻ con chỉ có đêm này được thức khuya, được cầm đèn, được ăn bánh đến no. Trẻ rước đèn, nhảy ô, kéo co, hát đồng dao; người lớn ngồi sau lưng uống trà, ngắm trăng, phá cỗ cùng con cháu. Hai thế hệ cùng hưởng một đêm rằm theo cách của mình.

Ngày nay đêm rằm vẫn giữ đúng tinh thần ấy: trẻ nhỏ cầm đèn hát đồng dao về chú Cuội, người lớn ngồi cùng phá cỗ. Dù nhà ở phố hay ở quê, điều trẻ nhớ suốt năm không phải món gì trên mâm mà là đêm được cả nhà cùng thức. Nói vậy để thấy, nguồn gốc và ý nghĩa ngày Tết Trung Thu không chỉ nằm ở sách vở, mà ở chính đêm đó.

Một bé gái ngồi trên ghế đẩu trong sân nhà nhìn lên bầu trời, trên bàn tròn có đĩa bánh và khay trái cây
Ảnh minh họa

Giữ nếp Trung Thu hôm nay

Giữ nếp không đồng nghĩa với làm đúng như xưa từng chút một. Với nhà phố và chung cư, phần cúng gia tiên và bữa cơm sum họp là chính. Lễ vật giản dị, không cần sắm sửa tốn kém, vì ý nghĩa của đêm rằm nằm ở sự tụ họp chứ không ở mâm cỗ đầy đến chật.

Chọn bánh thì nên ưu tiên nơi bán có nguồn gốc rõ, xem hạn dùng và bảo quản, nhất là với bánh nướng có nhân trứng muối, để đêm rằm chỉ còn là niềm vui. Trẻ nhỏ chơi gần đèn nến thì cần người lớn canh chừng, và nhà ở chung cư nên hạn chế thắp nhiều nến trong phòng kín.

Người xa quê vẫn có cách của mình: hẹn video gọi cho ông bà đúng đêm rằm, hai bên cùng bày cỗ, mỗi nơi phá nửa cỗ qua màn hình. Trăng thì một vầng, nhà thì hai nơi, mà đoàn viên vẫn trọn.

Chín thế kỷ trước, người viết bia chùa Đọi đã mở đầu bằng câu “Trung Thu cảnh đẹp, muôn việc rảnh rang”. Tấm bia ấy còn nguyên. Mỗi đêm rằm tháng Tám, khi đèn ông sao lại sáng trên tay trẻ con, câu chữ năm 1121 vẫn đúng như ngày đầu.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com