Phong tục
Ý nghĩa Sơn Tinh Thủy Tinh qua ba bản chép cổ và dấu tích ở Ba Vì
Báo chí từng đưa tin nhà sản xuất Trương Ngọc Ánh hợp tác với đạo diễn Victor Vũ đưa “Sơn Tinh, Thủy Tinh” lên màn ảnh, phim dự kiến ra mắt năm 2018. Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh không rõ tác giả vẫn đủ sức vào điện ảnh, bởi ý nghĩa Sơn Tinh Thủy Tinh chính là ký ức về cuộc chống lũ lụt của người Việt cổ.
Nhiều người thuộc lòng truyện này từ nhỏ, thuộc cả câu đố sính lễ voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.2 Nhưng ít ai để ý chuyện hai vị thần giành một cô dâu thực chất là chuyện gì. Một truyện cổ không rõ tác giả, truyền miệng qua bao thế hệ, vẫn đủ sức thu hút điện ảnh. Lý do không nằm ở chuyện tình giữa hai vị thần và một công chúa.
Đọc kỹ từng chi tiết, truyện chính là ký ức về trận chống lũ của người Việt cổ: từ danh sách lễ vật toàn sản vật đất liền, đến cảnh dân chân núi dựng rào thưa đỡ nước, đánh trống hò reo tiếp sức cho thần núi. Ý nghĩa Sơn Tinh Thủy Tinh nằm ngay ở đó: người xưa kể lại trận Sơn Tinh Thủy Tinh chống lũ lụt bằng ngôn ngữ thần thoại.
Cốt truyện và cuộc đua sính lễ
Truyện xảy ra ở kinh đô Phong Châu, nay thuộc vùng Bạch Hạc, Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, thời vua Hùng thứ 18. Vua muốn kén rể cho công chúa Mị Nương, và hai người đến xin làm rể. Một bên là Sơn Tinh, chúa miền non cao, thần núi Tản Viên, có tài dời non lấp bể. Bên kia là Thủy Tinh, thần nước, thần biển cả. Vua đặt điều kiện: bên nào mang lễ vật đến nơi trước, người đó được cưới công chúa.
Điều vua đòi không hề dễ. Bản văn quen thuộc trong sách giáo khoa yêu cầu bên xin cưới chuẩn bị một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng, thêm mỗi thứ một đôi voi chín ngà, gà chín cựa và ngựa chín hồng mao. Nhìn kỹ, tất cả đều là sản vật trên đất liền: gạo nếp, bánh, voi, gà, ngựa. Thủy Tinh đến sau, đành thua ngay từ màn thách cưới.2
Nhiều người đọc truyện chỉ thấy đây là màn thi tài dí dỏm. Chi tiết ấy thực ra đã báo trước kết cục ngay từ đầu: kẻ thuộc về đất sẽ thắng kẻ đến từ nước. Theo cách lý giải, danh sách sính lễ nói lên tâm thế của cư dân Việt cổ, vốn hướng về vùng đất cao để tránh lũ.
Trước đó, chuyện hôn nhân của Mị Nương từng gây sóng gió. Vua nước Tây Âu đem vàng bạc, cau vàng trầu bạc đến dạm hỏi, nhưng vua Hùng từ chối, vì nhà vua muốn tìm người tài đức đủ cho xứng đôi. Sơn Tinh đến trước, cưới được Mị Nương, đón nàng về ngọn núi cao nhất dãy Tản Viên. Thủy Tinh đến sau, mang lòng oán hận, dâng nước đánh Sơn Tinh để giành lại cô dâu. Hai bên đánh nhau ròng rã, cuối cùng Sơn Tinh thắng, thần nước rút quân, nhưng năm nào cũng trở lại.
Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh là truyện dân gian có yếu tố hoang đường, kỳ ảo, kể sự kiện liên quan lịch sử hoặc giải thích phong tục, cảnh vật. Truyện truyền miệng trong dân gian nên không rõ tác giả là ai. Chính đặc điểm ấy khiến mỗi chi tiết đều có thể đọc thành một thông điệp về đời sống của người xưa. Đặt truyện dưới ánh sáng của cuộc chiến với thiên tai, từng cảnh đều nói lên điều gì đó về người Việt cổ.
Trận nước lũ và dân làng cầm cự
Thua cuộc, Thủy Tinh nổi giận, dâng nước đòi cướp lại cô dâu. Bản văn truyện tả cảnh ấy rất kinh hoàng: nước ngập ruộng đồng, tràn nhà cửa, dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước. Trong Lĩnh Nam chích quái, thần nước còn mở đường sông vòng ra Hát Giang, vào sông Đà để đánh ập sau lưng núi Tản Viên. Đây không phải một trận đánh đơn lẻ mà là một cuộc bao vây bằng nước.
Tuy nhiên, Sơn Tinh không nao núng. Chàng bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng lũy đất ngăn dòng nước hung dữ. Nước dâng bao nhiêu, núi được nâng cao lên bấy nhiêu. Trận giao tranh kéo dài mấy tháng, cuối cùng Sơn Tinh vẫn vững vàng, còn Thủy Tinh đã kiệt sức, đành rút quân. Việt điện u linh tập chép lại kết cục ấy thật ngắn: vua cùng Sơn Tinh rút lên chóp núi Tản Viên, từ đó hai bên thành thù truyền đời.
Dân chúng không đứng ngoài cuộc.
Sách Lĩnh Nam chích quái ghi lại phản ứng rất nhanh của người ở chân núi khi thấy nước dâng. Họ dựng một hàng rào thưa để đỡ dòng nước, đánh trống gõ cối, hò reo tiếp sức, rồi bắn vào những chỗ rơm rác trôi nghi có thủy tộc nấp. Loài quái vật chết biến thành thây ba ba, thuồng luồng, trôi chặn kín cả khúc sông.2
Theo đó, bản kể dân gian cũng nhắc cư dân nước Văn Lang cùng giúp Sơn Tinh: người khỏe mạnh đào đất đắp đê, đóng cọc chắn ngang dòng nước; thần trống đồng hiện về cổ vũ mọi người ra trận. Một trận chiến giữa hai vị thần, vậy mà hàng chục chi tiết đều là việc làm rất đời: đắp đê, đóng cọc, dựng rào thưa, đánh trống, bắn nỏ. Đây chính là mặt trận chống lũ lụt đúng nghĩa nhất của truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh.
Trận ấy Thủy Tinh thua, nhưng không bỏ cuộc. Theo quan niệm dân gian, hằng năm vào khoảng tháng 7, tháng 8 âm lịch, thần nước lại kéo quân đến; vùng quanh núi thường có mưa to gió lớn, người ta bảo đó là lúc Thủy Tinh đánh Sơn Tinh để giành lại Mị Nương. Năm nào cũng thua, năm nào cũng đánh. Truyện vì thế giải thích vì sao lũ lụt quay lại hằng năm như một thói quen của thiên nhiên.
Đọc thêm: Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ qua trăm trứng nở bảy ngày
Ý nghĩa Sơn Tinh Thủy Tinh qua hai vị thần
Đặt hai nhân vật cạnh nhau, ý nghĩa Sơn Tinh Thủy Tinh hiện ra rõ. Sơn Tinh là chúa miền non cao, có tài dời non lấp bể, dựng núi xây đồi; chàng đại diện cho sức mạnh và sự chủ động của con người. Đó là trí tuệ, sự chuẩn bị, khả năng thích ứng, biết dựng đê vững chắc và chọn nơi cao để ở. Thủy Tinh đại diện cho thiên tai lũ lụt, bão tố, sức mạnh ghê gớm nhưng cuối cùng vẫn thua, vì thiên nhiên luôn có quy luật mà con người có thể dựa vào để sinh tồn.
Chi tiết nước dâng cao bao nhiêu, núi cao lên bấy nhiêu là hình ảnh tượng trưng cho tinh thần đoàn kết và sức mạnh của nhân dân trước thiên tai. Sơn Tinh thắng không phải vì phép thuật hơn người, mà vì có cả cộng đồng đứng sau: người đào đất, người đắp đê, người đánh trống hò reo. Truyện vì thế tôn vinh sự thông minh, khéo léo của người xưa, cùng tinh thần đoàn kết và ý chí không chịu khuất trước thiên tai.
Cảnh Sơn Tinh bốc từng quả đồi, dựng thành lũy đất ngăn nước thực chất là sự thần thoại hóa công lao xây dựng hệ thống đê điều của người Việt cổ ở vùng đồng bằng sông Hồng. Công việc nặng nhọc, kéo dài nhiều đời của hàng vạn người, qua lời kể dân gian, được gộp vào tay một vị thần mạnh mẽ. Ở chiều ngược lại, chuyện Thủy Tinh năm nào cũng dâng nước vào mùa mưa là cách cư dân nông nghiệp lý giải hiện tượng lũ lụt hằng năm của quê hương mình, thứ hiện tượng họ chứng kiến đủ lần để biết nó sẽ quay lại.
Truyện gắn với bối cảnh thời vua Hùng, khi lũ lụt đe dọa mùa màng hằng năm, nên khát vọng chế ngự thiên tai trở thành ước vọng lớn nhất của cư dân lúa nước. Đó là cốt lõi của việc thần núi và thần nước đối đầu mỗi mùa lũ trong tâm thức người xưa.
Vị thế của Sơn Tinh trong tâm thức dân gian cũng chứng tỏ truyện không phải chuyện ngẫu hứng. Theo quan niệm dân gian, ông là một trong Tứ bất tử và dân gian tôn ông là hàng đệ nhất trong bốn vị thánh này; trong văn học trung đại, ông thường được gọi là Tản Viên Sơn Thánh. Một vị thần đứng đầu hàng bất tử, mà sự tích lại là chuyện đánh thắng nước lũ. Dân gian đã xếp hạng cao nhất cho đúng người bảo vệ mình khỏi thiên tai.

Dấu tích còn ở Ba Vì
Câu chuyện vượt ra ngoài trang sách. Khắp vùng núi Ba Vì, nơi thờ Tản Viên Sơn Thánh, còn nhiều dấu tích gắn với việc chế ngự thiên tai như Bãi Đá Chông, ngọn U Bò, dãy Gò Choi, núi Đá Chèm, tre Ngòi Lạt. Tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh phát tích từ vùng núi Ba Vì, trấn Sơn Tây xưa, nay thuộc Thủ đô Hà Nội, với trung tâm thờ là mảnh đất xứ Đoài, vùng lõi là huyện Ba Vì. Tín ngưỡng ấy thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn cùng ước vọng chinh phục thiên nhiên ngàn đời của người Việt.3 Ngôi đền Và gần Phường Sơn Tây (Hà Nội) ngày nay, cách khoảng hai cây số, vẫn còn, do nhân dân dựng lên để ghi lại chiến công của Sơn Tinh.
Các sách cổ cũng chứng tỏ người xưa ghi chép truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh nghiêm túc từ lâu. Việt điện u linh tập, ước tính ra đời thời nhà Trần, chép truyện với nhan đề Tản Viên Hựu Thánh Khuông Quốc Hiển Linh Ứng Vương; Lĩnh Nam chích quái chép với tựa đề Tản Viên Sơn Truyện.1 Đến thời Hậu Lê, Đại Việt sử ký toàn thư đưa truyện vào phần ngoại kỷ thời Hồng Bàng, kể cả chi tiết vua cùng Sơn Tinh lấy lưới sắt chăng ngang thượng lưu sông Từ Liêm để chặn nước. Ba bộ sách, ba thời đại, cùng kể một chuyện. Truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh đã đi từ lời kể dân gian vào chính sử.
Viết bài phân tích từ mạch chống lũ
Với người đang cần viết bài phân tích, chẳng hạn một bài tập Ngữ văn, bố cục nên đi theo đúng mạch chống lũ lụt mà truyện mang trong mình. Lớp 9 ngày nay còn gặp lại đề tài này qua bài thơ “Sơn Tinh, Thủy Tinh” của Nguyễn Nhược Pháp, được dạy trong Ngữ văn lớp 9 bộ Chân trời sáng tạo. Trong bài thơ, Sơn Tinh có ba mắt, phi bạch hổ oai phong lẫm liệt, và chủ đề là chinh phục thiên tai của con người. Mở bài hay là đặt câu hỏi: vì sao Thủy Tinh thua mãi vẫn quay lại? Câu hỏi ấy dẫn thẳng vào phần thân bài.
Thân bài nên tách thành ba lớp ý, mỗi lớp dựa trên một nhóm chi tiết trong truyện. Trước hết là hoàn cảnh của cư dân nông nghiệp lúa nước, đời sống luôn bị lũ lụt đe dọa hằng năm. Tiếp theo là cuộc đua sính lễ với lễ vật đều là sản vật đất liền, nói lên tâm thế người Việt cổ hướng về vùng đất cao để tránh lũ, cùng trận nước lũ và cách dân chúng đắp đê, đóng cọc, đánh trống cứu viện. Cuối cùng là khát vọng trị thủy và bài học cho hôm nay, khi thế hệ trẻ hiểu vì sao phải bảo vệ môi trường và quản lý nguồn nước; cuộc chiến hàng năm của Thủy Tinh nhắc nhở về quy luật tự nhiên và ý thức chuẩn bị chu đáo trước biến động khí hậu. Ba lớp ấy lần lượt mở ra ba tầng ý nghĩa của truyện: tâm thế chọn đất cao, tinh thần đoàn kết chống lũ và khát vọng trị thủy.
Mở bài bằng câu hỏi về Thủy Tinh, thân bài theo ba lớp ý trên, kết bài dừng ở khát vọng trị thủy của người xưa nối sang ý thức của người hôm nay. Một bố cục như vậy vừa tôn trọng câu chuyện, vừa cho thấy người viết hiểu vì sao truyện này sống lâu đến vậy.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- Sơn Tinh – Thủy Tinh (Wikipedia) ↩
- Từ truyền thuyết đi vào chính sử: Cuộc chiến Sơn Tinh, Thủy Tinh (nguvan.hnue.edu.vn) ↩a ↩b ↩c
- Tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn Thánh ở Ba Vì (scov.gov.vn) ↩