Phong tục
Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ qua trăm trứng nở bảy ngày
Vì sao người Việt quen gọi nhau là con Rồng cháu Tiên, chứ không phải một loài nào khác? Câu trả lời nằm trong truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, chuyện bọc trăm trứng nở ra trăm người con, được ghi từ thời Trần trong Lĩnh Nam chích quái.
Hễ hỏi tổ tiên bắt đầu từ đâu, người Việt lại kể truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ: chàng rồng ở dưới nước, nàng tiên ở trên núi, gặp nhau nơi đất bằng rồi sinh ra bọc trăm trứng. Chuyện được ghi ở chương đầu tiên của Lĩnh Nam chích quái, sau đó sử gia đời Hậu Lê xem như chính sử và chép thành một bản kỷ trong Đại Việt sử ký toàn thư. Tuy nhiên, Đại Việt sử lược thời nhà Trần, vốn cổ hơn, lại chưa có chuyện này.4 Truyện vì thế được ghi chép và nâng lên thành sử qua từng thời.
Ngay trong sử sách, các bản kể cũng đã chênh lệch với nhau. Đại Việt sử ký toàn thư chép huyền thoại tương tự nhưng lược bớt chi tiết trăm trứng trong bọc, chỉ nói hai người sinh ra trăm người con.2 Theo đó, chi tiết bọc trăm trứng là phần sống trong dân gian nhiều hơn phần chép thành văn.
Người Việt gọi mình là con Rồng cháu Tiên vì trong cách gọi ấy, Rồng chỉ Lạc Long Quân, Tiên chỉ Âu Cơ, tức tự nhận mình là dòng dõi của hai vị. Tên gọi này thường xuất hiện trong thơ ca với hàm ý kêu gọi đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam.2 Người Việt còn quen gọi nhau là đồng bào với nghĩa tương tự.2
Chuyện kể từ thủy phủ lên núi cao
Sách cũ kể ở Lĩnh Nam có thủ lĩnh tên Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương, sức khỏe tuyệt trần, đi lại dưới nước như đi trên cạn. Chơi hồ Động Đình, ông gặp Long Nữ, con gái Long Vương; hai người kết thành vợ chồng và sinh ra Sùng Lâm. Đứa con thừa hưởng sức mạnh và tài lặn lội của cha, nối nghiệp rồi xưng hiệu Lạc Long Quân. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cha ông là Kinh Dương Vương Lộc Tục, mẹ là Thần Long, con gái của Động Đình Quân; ông được xem là vua của nhà nước sơ khai Xích Quỷ, trước cả Văn Lang.1
Bấy giờ đất Lĩnh Nam còn hoang vu, không nơi nào yên ổn, chàng quyết chí đi khắp nơi diệt yêu trừ quỷ giúp dân. Ba trận đánh lớn để lại dấu vết trên chính những tên đất, tên hồ người ta vẫn gọi hôm nay, chi tiết nhiều bản kể lại thường lướt qua.
Trận đầu ở bờ biển Đông Nam là Ngư Tinh, con cá lâu đời thành tinh, mình dài hơn năm mươi trượng, miệng nuốt được mười người một lúc, chuyên chìm thuyền nuốt người. Để giết nó, chàng đóng thuyền lớn, rèn khối sắt cạnh sắc nung đỏ rồi ném vào miệng, sau đó chém nó thành ba khúc. Khúc đầu vứt lên núi hóa thành Cẩu Đầu Sơn. Khúc mình trôi đến xứ Mạn Cẩu thành Cẩu Đầu Thủy. Còn khúc đuôi, chàng lột da phủ lên một hòn đảo xa, đảo Bạch Long Vĩ còn giữ tên đến nay.
Ở Long Biên có con cáo chín đuôi sống hơn nghìn năm thành tinh, gọi là Hồ Tinh, chuyên hóa thành người dụ bắt con gái đem về hang hãm hại; vùng bị hại trải từ Long Biên đến núi Tản Viên. Hai bên giao chiến ba ngày ba đêm, rồi chàng chém đứt đầu nó. Sau đó chàng sai thủy tộc dâng nước sông Cái xoáy hang cáo thành một vực sâu, dân gọi là đầm Xác Cáo, đời sau gọi là Tây Hồ. Dân vùng Long Biên dựng nhà lập xóm trên đất cao, gọi là làng Hồ, nay vẫn còn.
Trận khó nhất diễn ra ở đất Phong Châu, nơi cây chiên đàn cổ thụ cao hàng nghìn trượng khô héo thành Mộc Tinh, chuyên thay hình đổi dạng bắt người ăn thịt. Giao chiến trăm ngày đêm chưa thắng được, chàng bèn dùng chiêng trống đánh ầm trời; con yêu khiếp sợ bỏ chạy về phía Tây Nam. Vùng nó sống quanh quất sau này được gọi là Quỷ Xương Cuồng.
Diệt xong ba con yêu tinh, chàng không dừng ở việc trừ hại. Chàng dạy dân Phong Châu trồng lúa nếp, lấy ống tre thổi cơm, đốn gỗ làm nhà sàn phòng thú dữ, dạy dân ở cho ra đạo cha con, vợ chồng. Từ đó mới hiểu vì sao truyện này được coi là truyền thuyết nguồn gốc dân tộc Việt: nó kể cả lúc dân còn hoang vu lẫn lúc dân đã biết làm ăn, biết có nếp nhà.
Dân cảm ơn, dựng cung điện nguy nga trên núi cao cho chàng, nhưng chàng không ở, thường về quê mẹ dưới thủy phủ, chỉ dặn hễ có tai biến gì thì gọi, chàng sẽ về ngay. Sau đó Đế Lai từ phương Bắc đem quân tràn xuống, sai quân dựng thành đắp lũy định ở lâu dài, dân phải phục dịch cực khổ. Họ hướng về biển Đông gọi to: Bố ơi, sao không về cứu dân chúng con. Lạc Long Quân trở về ngay trong chớp mắt.
Chàng hóa làm chàng trai rất đẹp, cùng hàng trăm đầy tớ vừa đi vừa hát đến chỗ Đế Lai, chỉ gặp Âu Cơ, cô gái nhan sắc tuyệt trần. Nàng say mê xin đi theo, chàng đưa nàng về cung điện trên núi cao. Đế Lai không thấy con gái, sai quân đi tìm khắp nơi; chàng sai hàng vạn ác thú chặn các nẻo đường, xé xác bọn lính khiến chúng khiếp sợ bỏ chạy. Đế Lai đành thu quân về phương Bắc.
Ở với nhau ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày, bọc nở ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một người con trai, tất cả đều xinh đẹp, khỏe mạnh và thông minh khác thường.
Sống bên đàn con hàng chục năm, chàng vẫn nhớ thủy phủ. Một hôm chàng từ giã vợ con, hóa làm con rồng bay về biển cả; Âu Cơ và các con ở lại trên núi chờ đợi mỏi mắt. Nhớ chồng, nàng đứng trên núi cao hướng về biển Đông gọi: Bố nó ơi, sao không về để mẹ con chúng tôi sầu khổ thế này. Chàng trở về tức khắc.
Hai người từ biệt nhau, trăm người con trai tỏa đi các nơi và trở thành tổ tiên của người Bách Việt.
Người con cả ở lại đất Phong Châu, được tôn làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu Hùng Vương.1 Vua chia nước làm mười lăm bộ, đặt tướng văn tướng võ gọi là lạc hầu, lạc tướng; con trai vua gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương; ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương. Nếu Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân, thì Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được mười tám đời.
Vì sao rồng với tiên lại chia nhau
Câu chia tay trong truyện là lời của chính Lạc Long Quân: ta là loài rồng, nàng là giống tiên, khó ở với nhau lâu dài. Chàng đề nghị đem năm mươi con về miền biển, nàng đem năm mươi con lên miền núi, chia nhau trị vì các nơi, hễ gặp nguy hiểm thì báo cho nhau biết, cứu giúp lẫn nhau. Bản khác lý giải bằng thủy hỏa khắc nhau nên hai người phải chia con ra cai quản các nơi.
Theo cách lý giải triết học dân gian, sự chia ly ấy không phải là đoạn kết buồn. Lạc Long Quân mang tính nam, thuộc dương, ở biển dưới thấp; Âu Cơ mang tính nữ, thuộc âm, ở núi cao. Âm dương gặp gỡ tại nơi đất bằng, kết duyên sinh sôi, rồi lại tách ra theo quy luật âm dương, ngũ hành, thuyết xuất phát từ Kinh Dịch. Còn số một trăm, theo Kinh Dịch, là số thành cuối cùng của trời đất, biểu tượng tròn đầy viên mãn, nên bọc trăm trứng không phải con số ngẫu nhiên.
Sự tích Âu Cơ và số người con theo cha theo mẹ cũng có nhiều dị bản mà các nguồn chưa chốt bản nào đúng. Bản phổ biến kể mỗi bên năm mươi con. Trong khi đó, bản gắn với đền Hạ tại Đền Hùng lại nói năm mươi con theo cha xuống biển mà chỉ bốn mươi chín con theo mẹ lên núi, vì người con trưởng ở lại làm vua. Thân thế Âu Cơ cũng lệch nhau: có bản kể nàng là con gái Đế Lai đi cùng cha xuống phương Nam, có bản nói nàng thuộc dòng họ Thần Nông, lại có bản kể nàng là tiên nữ từ trên núi xuống giúp dân chữa bệnh dịch mà Lạc Long Quân không trị được, có lòng từ bi và tài y thuật. Mẹ của Lạc Long Quân cũng được kể khác nhau: Long Nữ con gái Long Vương, Thần Long con gái Động Đình Quân, hay Mẫu Thoải con gái Ngọc Đế. Mỗi vùng kể một kiểu, và chính sự phong phú ấy cho thấy truyện đã sống trong dân gian rất lâu trước khi được chép thành sách.
Dòng dõi hai nhân vật trong sách cổ cũng có mạch riêng. Đại Việt sử ký toàn thư và Lĩnh Nam chích quái đều cho rằng Lạc Long Quân thuộc dòng Thần Nông: vua Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông, có con trưởng là Đế Nghi và con thứ là Lộc Tục. Lộc Tục được cử làm vua phương Nam, đất Văn Lang sau này, lên ngôi rồi lấy hiệu Kinh Dương Vương.1
Bên cạnh cách đọc theo thần thoại còn có cách đọc mang tính sử học. Có ý kiến cho rằng Lạc Long Quân có thể là danh hiệu truyền lại trong dã sử của một tù trưởng có công thống nhất các bộ tộc người Lạc Việt; con trai ông là tù trưởng bộ lạc Văn Lang đã thống nhất thành công mười lăm bộ lạc, lập ra nhà nước Văn Lang, xưng hiệu Hùng Vương thứ nhất.1 Hai cách đọc không loại trừ nhau: một bên kể chuyện bằng hình tượng, một bên tìm dấu vết con người trong đó.
Một chi tiết ít người nhớ: trước khi chia tay, Lạc Long Quân dặn Âu Cơ khi gặp khó khăn hãy đốt đống lửa to trên núi để ông tìm đến. Lời hẹn cứu giúp lẫn nhau giữa núi với biển là phần các thế hệ sau giữ lại thành tinh thần của câu chuyện: cùng một gốc, dù ở đâu cũng phải biết đến nhau.

Con Lạc cháu Hồng hôm nay
Câu con Rồng cháu Tiên, cách gọi đồng bào, con Lạc cháu Hồng đều xuất phát từ truyền thuyết nguồn gốc dân tộc Việt, và tục Giỗ Tổ là dịp dân tộc nhắc lại gốc ấy mỗi năm. Lễ giỗ Tổ được tổ chức hàng năm nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương cùng Lễ hội Đền Hùng, thể hiện lòng tri ân của con Lạc cháu Hồng.
Ngày quốc lễ này có một mốc văn bản rõ ràng. Đầu năm 1917, Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc trình Bộ Lễ xin lập lệ thường niên: lấy ngày 10 tháng 3 âm lịch cho nhân dân cả nước kính tế Quốc Tổ Hùng Vương, sớm hơn một ngày so với ngày hội tế của dân xã bản hạt. Ngày 25 tháng 7 năm 1917, Bộ Lễ phúc đáp bằng công văn, chính thức định ngày quốc lễ Giỗ Tổ Hùng Vương là mồng 10 tháng 3 âm lịch, kèm nghi thức và lễ vật tế Tổ hàng năm.3 Bia Hùng miếu điển lệ bi dựng năm 1923 tại đền Thượng ghi lại sự kiện này.3
Tại Phú Thọ, lễ giỗ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân và lễ dâng hương tưởng niệm Tổ Mẫu Âu Cơ được tổ chức hàng năm, với các đoàn dâng hương từ khắp nơi về dự, trong đó có đoàn do Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Bùi Minh Châu dẫn đầu. Đền thờ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân đặt trên đỉnh núi Sim, đền thờ Tổ Mẫu Âu Cơ trên đỉnh núi Vặn. Hai ngọn núi ấy vì thế trở thành điểm hẹn của người muốn về nguồn mỗi dịp giỗ.
Nhà nào không thể về quê vẫn giữ được tinh thần của tục bằng cách kể lại chuyện bọc trăm trứng cho con nghe, đúng như câu chuyện đã đi từ miệng dân gian vào Lĩnh Nam chích quái rồi vào sử sách. Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ sống được bao đời nhờ cách truyền miệng ấy, trước cả những dòng chữ trên bia đá.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- Lạc Long Quân (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c ↩d
- Con Rồng cháu Tiên (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c
- Giỗ tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch bắt đầu từ bao giờ? (infonet.vietnamnet.vn) ↩a ↩b
- Âu Cơ (Wikipedia) ↩