Chúc Mừng Năm Mới

Giải trí

Truyện cổ tích thế tục Việt Nam hay và ý nghĩa nhất với trầu cau, cành đào, Hồ Tây

Hỏi truyện cổ tích thế tục Việt Nam hay và ý nghĩa nhất là những truyện nào, câu trả lời đáng tin nằm ở những truyện đã đi vào tục lệ: trầu cau với đền Tam Khương ở Nghệ An, hoa đào ngày Tết, Hồ Trâu Vàng.

13 phút đọc

Ai cũng từng được hỏi truyện cổ tích thế tục Việt Nam hay và ý nghĩa nhất là những truyện nào, và câu trả lời hay gặp lại là những danh sách sao chép từ trang này sang trang khác. Thực ra chưa có bảng xếp hạng chính thức nào cho câu hỏi đó; các danh sách đang lan truyền chỉ liệt kê truyện theo cách riêng của từng nơi, không có tiêu chí so sánh cụ thể.

Chọn theo cách khác: lấy những truyện mà ý nghĩa còn sống trong đời hằng ngày. Trầu cau vẫn nằm trên mâm quả cưới, cành đào vẫn cắm trong nhà dịp Tết, đèn cá chép vẫn thắp mỗi trung thu. Gia đình muốn chọn vài truyện kể cho con trước Tết sẽ thấy trầu cau, hoa đào hợp hơn nhiều truyện thần kỳ dài dòng, vì nghe xong, đứa trẻ nhìn thấy ngay câu chuyện trong chính ngôi nhà mình.

Cổ tích thế tục là gì, truyện nào hay và ý nghĩa nhất

Cổ tích thế tục là thể loại truyện cổ tích xoay quanh những sự kiện quen thuộc trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày của người dân; yếu tố thần kỳ nếu có cũng không đứng ra giải quyết xung đột chính của tác phẩm. Gắn với chuyện nhà, chuyện làng nên ai đọc cũng thấy thân thuộc.

Thể loại này còn có tên khác là cổ tích sinh hoạt, một trong bốn loại truyện cổ tích, cùng với truyện về loài vật, truyện thần kỳ và truyện về loài người.3 Xét về nội dung, các nhà nghiên cứu xếp cổ tích sinh hoạt thành mấy nhóm rõ rệt: truyện về nhân vật bất hạnh, truyện phê phán thói xấu, truyện về người thông minh và truyện về người ngốc nghếch.

Trong nhóm truyện về người thông minh có những tên tuổi quen thuộc như Cậu bé thông minh, Nói dối như Cuội, Xử kiện tài tình. Nhóm phê phán thói xấu có Đứa con trời đánh, Gái ngoan dạy chồng; nhóm người ngốc nghếch có Chàng ngốc đi kiện, Làm theo vợ dặn.2 Còn nhóm nhân vật bất hạnh có Trương Chi, Sự tích chim hít cô, Sự tích chim quốc. Đọc vài truyện ở mỗi nhóm, người ta nhận ra ngay đặc điểm chung: dù chi tiết có ly kỳ đến đâu, câu chuyện vẫn rút ra từ thế giới trần tục, và người đọc gặp lại chính cuộc sống của mình trong đó.

Sự tích trầu cau

Trong các truyện cổ tích thế tục Việt Nam hay và ý nghĩa nhất, trầu cau thường đứng đầu danh sách, và cũng là truyện nhiều người kể sai chi tiết mà không hay. Bản kể phổ biến nói về hai anh em Tân và Lang sinh ra giống nhau như đúc, đến mức con gái đạo sĩ họ Lưu phải dùng bát cháo với một đôi đũa mới phân biệt được ai là anh, ai là em. Sau khi Tân cưới vợ, Lang buồn vì nghĩ anh mê vợ quên em, bỏ nhà đi rồi chết bên bờ suối, thân hóa tảng đá. Tân đi tìm em, khóc bên hòn đá cho đến lúc lìa đời, mọc thành cây cau thẳng bên tảng đá. Vợ Tân đi tìm chồng, khóc chết dưới cây, quấn quanh thân cau thành dây trầu.1

Vôi, cau, trầu quyện nhau cho sắc đỏ như máu.1 Vua Hùng đi tuần qua đó nghe chuyện, bèn dạy dân lấy ba thứ ấy làm biểu tượng cho tình nghĩa thắm thiết anh em, vợ chồng, và từ đó người Việt có tục ăn trầu. Đến ngày nay, trầu cau vẫn hiện diện trong cưới hỏi, kết thân; ở nhiều vùng quê, mâm trầu cau được đặt đầu tiên trong mâm quả, tục lệ bắt nguồn trực tiếp từ truyện này.

Truyện này có nhiều bản kể. Truyền miệng bao nhiêu đời nên dị bản rất nhiều: có bản chép chuyện xảy ra vào đời vua Hùng Vương thứ ba, có bản lại kể vào đời vua Hùng Vương thứ tư. Bản chép trong sử thi Lĩnh Nam chích quái đổi hẳn vai các nhân vật: Lang hóa thành cây cau, Tân hóa thành hòn đá, còn vợ Tân thành cây trầu. Sự khác nhau đó không có bản nào kể sai; đó là đặc trưng của truyện dân gian lưu truyền qua nhiều vùng, nhiều thế hệ.

Bảng dưới đây đối chiếu mấy dị bản chính để người đọc tự thấy truyện đã đi qua bao nhiêu miệng kể:

Bảng đối chiếu ba dị bản truyện Sự tích trầu cau.
Chi tiết Bản phổ biến Dị bản Lĩnh Nam chích quái Dị bản khác
Thời gian Đời vua Hùng Vương thứ ba Không ghi rõ thời gian Đời vua Hùng Vương thứ tư
Người em (Lang) Chết bên suối, hóa tảng đá Thành cây cau Hóa vôi
Người anh (Tân) Thành cây cau Hóa hòn đá Cũng thành cây cau
Vợ Tân Thành dây trầu Thành cây trầu Cũng thành cây trầu
Kết cục Vua Hùng dạy dân tục ăn trầu Vôi cau trầu quyện thành sắc đỏ như máu Quyện nhau thành sắc đỏ như máu
Một chiếc mây tròn trên bàn gỗ tối đặt lá trầu xanh, vài múi cau, một bình trắng và một bát đỏ, cạnh cửa sổ có nắng chiều
Ảnh minh họa

Đền Tam Khương còn đó

Ít ai biết rằng ba nhân vật trong truyện được thờ thật, bằng một ngôi đền có tên trong sổ sách. Đền Tam Khương ở làng Nam Hoa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An thờ cả ba người: người anh, người em và người vợ, và đền này từng được các triều đại phong kiến sắc phong tặng.4 Nghĩa là chuyện tưởng chỉ để kể đêm lửa lại có địa chỉ thật để đến thắp một nén hương.

Đó cũng là lý do bài này đặt trầu cau vào nhóm truyện đáng đọc đầu tiên: ít có truyện nào vừa giải thích được một tục lệ ngàn năm, vừa để lại dấu tích thờ tự còn đến hôm nay.

Đọc thêm: Truyện cổ tích là gì? Định nghĩa, nguồn gốc và đặc điểm

Hoa đào ngày Tết

Nếu trầu cau giải thích mâm quả cưới thì Sự tích hoa đào giải thích cành đào trong nhà ngày Tết. Truyện kể có hai vị thần tên Trà và Uất Lũy trú trên một cây hoa đào lớn ở phía Đông núi Sóc Sơn, chuyên trừng phạt ma quỷ. Ma quỷ sợ hai vị thần đến mức sợ luôn cả cây đào.

Mỗi dịp cuối năm, hai vị thần lên chầu Ngọc Hoàng, ma quỷ lại lộng hành trở lại. Dân chúng bèn bẻ cành đào về cắm trong nhà để xua đuổi chúng; ma quỷ nhìn cành đào mà sợ, không dám lại gần. Từ đó thành tục, và Sự tích hoa đào trở thành truyện thế tục gắn chặt với ngày Tết nhất trong năm của người Việt.

Ngày nay cành đào vẫn cắm trong nhà dịp Tết, nhưng ý nghĩa đã khác xưa: người ta mong nó mang lại sự ấm cúng, gieo niềm vui và hy vọng vào một năm mới an lành, may mắn, chứ không còn để dọa ma quỷ. Nhà nào ở phố không có đất trồng đào vẫn mua cắm lọ; tục cũ hóa thành cách trang trí, nhưng gốc gác của nó vẫn là câu chuyện hai vị thần trên núi Sóc Sơn.

Đọc thêm: Bộ truyện cổ tích Việt Nam chọn lọc nên có những truyện nào

Truyện Hồ Trâu Vàng

Hồ Tây hôm nay nằm giữa Hà Nội, nhưng tên gọi của nó là cả một câu chuyện. Sách Tây Hồ chí ghi hồ có từ thời vua Hùng, từng là bến Lâm Ấp cạnh sông Hồng, thuộc thôn Long Đỗ.5 Về địa lý, Hồ Tây là hồ ngoại sinh dạng lòng chảo, hình thành chủ yếu do tác dụng xâm thực của sông Hồng. Dân gian còn gọi hồ là Dâm Đàm, nghĩa là đầm mù sương; tên gọi này có từ thời Lý - Trần.

Truyền thuyết Hồ Trâu Vàng kể vào đời nhà Lý, nhà sư Nguyễn Minh Không sang Trung Quốc chữa bệnh cho hoàng tử nước Tống. Được thưởng, ông chỉ xin lấy đồng đen, thứ được coi là mẹ của vàng, về đúc chuông. Tiếng chuông vang sang bên kia biên giới khiến trâu vàng bên ấy lồng lên, chạy về nước, giẫm nát khu rừng phía bắc Thăng Long cho đến khi đất lún thành hồ. Vua sai ném chuông lẫn trâu vàng xuống hồ, và đó là Hồ Tây ngày nay. Nơi trâu đi qua thành sông Kim Ngưu; nơi trâu chui vào hang, dân lập đền Kim Ngưu trên đường vào phủ Tây Hồ. Truyện còn gắn với tục gọi trâu vàng: người sinh đủ mười con trai mới gọi được nó lên. Có lần một người gọi được, nhưng trong mười đứa chỉ chín đứa là con ruột, một đứa là con nuôi; dây đứt, trâu chui xuống hang mãi.

Tên Dâm Đàm được dùng đến năm 1573. Năm ấy vua Lê Thế Tông lên ngôi; sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi vua tên húy là Duy Đàm, nên người ta kiêng không gọi hồ Dâm Đàm nữa mà đổi gọi là Tây Hồ.5 Người đi bộ qua đường Thanh Niên hôm nay ít biết rằng Hồ Tây và hồ Trúc Bạch xưa kia chỉ là một mặt nước. Ba làng Trúc Yên, Yên Phụ, Yên Quang đắp con đê chắn ngang để giữ phần cá về phía mình, và con đê ấy nay trở thành con đường chạy giữa hai hồ.

Một người phụ nữ mặc áo dài trắng đứng quay lưng trước cửa gỗ, đang chỉnh nhành hoa đào trong vại gốm, nắng chiều ấm
Ảnh minh họa

Những truyện giải thích tập tục

Ngoài trầu cau, hoa đào và Hồ Tây, cổ tích thế tục còn có cả một nhóm truyện sinh ra để trả lời câu hỏi vì sao có tục này, vật kia. Mỗi dịp trung thu, trẻ em cầm đèn cá chép mà ít biết truyện Sự tích cái lồng đèn: cá chép tinh đêm rằm tháng tám lên bờ bắt người ăn thịt. Một nhà sư bày dân làng làm lồng đèn hình cá chép treo trước cửa; cá chép tinh tưởng đồng loại nên bỏ đi, và từ đó mỗi năm người dân làm lồng đèn cá chép thành tập tục.

Cũng kiểu ấy, truyện Rét nàng Bân giải thích hiện tượng trời rét giữa mùa xuân: nàng Bân là con gái Ngọc Hoàng, vụng về may mãi chiếc áo ngự hàn cho chồng mà không xong đến khi trời hết rét. Ngọc Hoàng thương con, làm trời rét mấy hôm để chồng nàng có cơ hội thử áo, và cứ tháng ba hằng năm trời lại rét như thế. Truyện Sự tích cái mõ kể con cá kình từng tu đạo nhưng lười biếng, được vị hòa thượng chỉ phải ăn năn sám hối; sau bảy ngày đêm tụng kinh, cá nổi lên cảm tạ sư thầy và nguyện lưu xác ở chùa để chư tăng gõ lên đầu, làm gương cho kẻ biếng nhác. Truyện Sự tích cây chổi kể người đàn bà nấu ăn ngon trên thiên đình có tật ăn vụng, cùng người yêu là lão chăn ngựa hay uống rượu. Cả hai lấy cắp đồ ăn trên thiên đình, bị Ngọc Hoàng phát hiện và đày xuống trần làm chổi quét nhà, không được nghỉ ngơi.

Một truyện đẹp trong nhóm này là Sự tích hoa ngô đồng: người đàn ông đánh đàn hay mang cây đàn năm cánh đi tìm người truyền nghề và tri kỷ, gặp cha con nhà nọ có cô con gái mười sáu tuổi xinh đẹp, bèn nhận dạy đàn và giấu kín tình cảm. Cuối cùng ông âm thầm ra đi trong sương sớm rồi qua đời vì bệnh cảm nặng; trước khi chết ông vẫn đánh một bản nhạc quen thuộc của mình. Người chủ nhà cùng hai học trò lập bàn thờ, treo cây đàn và bình rượu cạnh đó. Vào một ngày mùa xuân, trong miệng bình mọc lên hai cái lá con, sau đó cây trổ hoa màu đỏ tươi, năm cánh nhỏ xíu túm lại, nhìn xa như những vết máu li ti; người ta gọi loài hoa ấy là hoa ngô đồng. Ngày nay cây hoa ngô đồng được trồng tại Huế, trong Đại Nội có rất nhiều cây; hoa nở từ tháng hai đến tháng năm âm lịch.

Thế tục khác thần kỳ thế nào

Đây là chỗ nhiều người đọc gọi nhầm khi tìm truyện cổ tích thế tục Việt Nam hay và ý nghĩa nhất. Tấm Cám, Cây khế (Ăn khế trả vàng), Thạch Sanh, Sọ Dừa thường được xếp vào danh sách thế tục, nhưng theo cách phân loại của các nhà nghiên cứu, cả bốn truyện đều thuộc dòng cổ tích thần kỳ: thần kỳ ở đó chính là nhân vật giải quyết xung đột. Trong Cây khế, chim thần ban vàng là nhân vật quyết định toàn bộ số phận câu chuyện, nên truyện không phải thế tục. Cách phân biệt rất đơn giản: cổ tích sinh hoạt kể những sự kiện khác thường, ly kỳ nhưng rút ra từ thế giới trần tục, còn thần kỳ thì phép lạ can thiệp trực tiếp vào mấu chốt truyện.

Điều đó không làm truyện thần kỳ kém ý nghĩa hơn. Cổ tích nói chung câu chuyện nào cũng dạy người ta điều hay: cách ăn ở với nhau, lẽ công bằng ở đời; kết thúc thường có hậu, cái thiện thắng, cái ác bị trừng trị. Cốt truyện luôn dựng hai tuyến thiện - ác đối lập, như người anh và người em, để làm nổi bật nhân phẩm của nhân vật lý tưởng, vốn thường nhỏ bé, bất hạnh nhưng có đạo đức và tài năng vượt trội. Phần thưởng và trừng phạt cũng rõ ràng: người anh trong Cây khế ngã xuống biển vì lòng tham, Lí Thông trong Thạch Sanh bị sét đánh chết vì gian dối.3 Ngay cả Sự tích trầu cau, dù được nhiều nguồn xếp là truyện thế tục tiêu biểu, cũng được phân loại vào dòng thần kỳ; dù thuộc dòng nào, truyện vẫn dạy bài học về tình nghĩa anh em, vợ chồng.

Trên chiếc bàn gỗ tối có chồng sách cũ bìa vải, một ngọn đèn dầu đang cháy, chén trà và vài lá trầu xanh, ánh sáng ấm dịu
Ảnh minh họa

Chọn truyện kể cho con

Với gia đình muốn bắt đầu, cách chọn đơn giản nhất là gắn truyện với dịp sắp tới trong đời thật. Khi dự đám cưới, kể trước trầu cau để đứa trẻ hiểu mâm quả trên bàn; trước Tết, kể hoa đào rồi cả nhà cùng cắm cành đào; trước trung thu, kể lồng đèn rồi đi xem hội lồng đèn. Câu chuyện có dịp sống lại trong đời sống thật thì nhớ lâu hơn gấp nhiều lần.

Một buổi tối cuối năm, cha kể trầu cau cho con nghe rồi cả nhà cùng cắm cành đào: hai câu chuyện nối nhau thành một dịp Tết trọn vẹn. Danh sách truyện cổ tích thế tục Việt Nam hay và ý nghĩa nhất vì thế không cần dài: một truyện cho mỗi dịp là đủ. Đó cũng là chỗ cổ tích thế tục khác mọi loại truyện khác: nó sống ngoài quyển sách, được kể lại mỗi khi người Việt ăn trầu, cắm đào, thắp đèn.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com