Phong tục
Tôn sư trọng đạo là gì? Nghĩa và biểu hiện đời sống
Tôn sư trọng đạo là kính trọng người thầy và coi trọng đạo học, bắt nguồn từ Nho giáo với trật tự quân - sư - phụ. Bài viết giải nghĩa từng chữ, kể dấu ấn Văn Miếu, chỉ ra biểu hiện trong đời sống và cách gìn giữ truyền thống này cho hợp thời.
Nghĩa chữ và nguồn gốc của tôn sư trọng đạo
Tôn sư trọng đạo là gì? Đó là thành ngữ gồm bốn chữ, nghĩa là tôn kính người thầy và coi trọng đạo lý, con đường làm người mà thầy truyền dạy. Nhiều người thuộc miệng câu này từ nhỏ, nhưng không hẳn đã rõ từng chữ nghĩa ra sao, vì sao người xưa đặt thầy lên vị trí cao đến thế, và tục ấy theo con đường nào mà thành nếp sống của người Việt.
Muốn hiểu trọn vẹn, phải bắt đầu từ từng chữ một. Bốn chữ ấy không ghép ngẫu nhiên: mỗi chữ mang một tầng nghĩa, đặt cạnh nhau thành cả một quan niệm về người thầy và về việc học. Cũng từ đó, câu hỏi vì sao thầy đứng trên cả cha mẹ mới có lời giải, chứ chẳng phải người xưa nói quá cho trang trọng.
Giải nghĩa từng chữ: kính thầy và trọng đạo
Chữ Tôn nghĩa là tôn kính, đặt lên trên và giữ cho trang trọng. Sư là thầy giáo, người truyền dạy kiến thức.2 Trọng là coi trọng, quý trọng. Còn Đạo ở đây không mang nghĩa đạo tôn giáo; đó là đạo đức, đạo lý làm người. Ghép lại, tôn sư là tôn trọng, biết ơn người thầy đã truyền đạt kiến thức và bồi dưỡng tâm hồn; trọng đạo là coi trọng những giá trị, nguyên tắc thầy chia sẻ, và duy trì đạo lý ấy trong cuộc sống của mình.
Nói gọn, thành ngữ này dạy lễ phép với thầy cô giáo, đồng thời coi trọng học vấn và đạo nghĩa. Hai vế gắn chặt với nhau: kính thầy mà bỏ quên điều thầy dạy thì mới có một nửa; coi trọng đạo lý mà quên người đã chỉ đường thì cũng thiếu nửa còn lại.
Vì thế, nó vượt ra ngoài cử chỉ chào hỏi hay quà tặng dịp lễ, mà nói về cả một thái độ sống: đề cao vai trò người thầy và quý cái học. Qua hàng nghìn năm, nó đã thành nét đẹp văn hóa, thể hiện sự nhân nghĩa và đạo lý trong con người Việt Nam, chứ không dừng ở một câu giáo huấn trong sách vở.
Người đời sau còn diễn giải thêm: kết quả học tập, những giải thưởng, và những hành động có ích cho xã hội, đều là cách báo đáp công ơn thầy cô. Nhìn theo nghĩa ấy, điều thành ngữ nhắc không nằm ở lời nói, mà nằm ở việc người học sống ra sao sau khi rời ghế nhà trường.
Cội nguồn Nho giáo và trật tự quân - sư - phụ
Tôn sư trọng đạo là tư tưởng gốc của Nho giáo, đề cao việc học và vai trò người thầy. Quân - sư - phụ là trật tự Nho giáo xếp vua trước, thầy thứ hai và cha mẹ thứ ba, thể hiện vị trí đặc biệt của người thầy. Quan niệm này do Khổng Tử đề xướng từ khoảng 2.500 năm trước, và người Việt xưa cũng theo cách xếp bậc ấy: Quân là vua, Sư là thầy, Phụ là cha; thầy đứng trên cả cha.
Nghe qua có vẻ khó chấp nhận với người hôm nay, nhưng đặt vào thời của nó thì dễ hiểu. Nho giáo dạy cách sống có đạo làm người gồm nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; người thầy chính là người mở đường cho những giá trị ấy vào đời học trò. Cha sinh ra con, còn thầy cho con biết làm người, nên hai ân ấy không thể lấy cân đo đếm mà so bì.
Sách Lễ ký, phần Học ký, viết: thầy giữ được sự nghiêm trang thì đạo lý mới được tôn trọng; đạo lý được tôn trọng thì dân chúng mới coi việc học là quý. Người xưa còn quan niệm lương sư hưng quốc: đất nước muốn hưng thịnh phải có nền giáo dục phát triển và những người thầy có đạo đức, kiến thức uyên thâm.
Cách nhìn ấy thấm sâu đến mức thành câu quen thuộc: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, nghĩa là người dạy mình một chữ hay nửa chữ cũng là thầy, đáng được kính trọng. Người xưa viết hai chữ sư phụ cũng theo nghĩa ấy: chữ Phụ là cha, gắn với câu nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ; chỉ học thầy một ngày cũng phải nhớ ơn thầy suốt đời như nhớ ơn cha mẹ.
Dấu ấn tại Việt Nam: Văn Miếu, Quốc Tử Giám và thầy Chu Văn An
Ở Việt Nam, tư tưởng này được xác lập chính thức từ thời Lý. Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu ở phía nam kinh thành Thăng Long, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công, tứ phối, vẽ tượng thất thập nhị hiền, định bốn mùa tế tự và cho Hoàng thái tử đến học. Văn Miếu - Quốc Tử Giám trở thành quần thể thờ Khổng Tử và trường đại học đầu tiên của nước ta, dấu mốc ghi nhận tư tưởng ấy vào đời sống quốc gia.
Sáu năm sau, năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây Quốc Tử Giám kề sau Văn Miếu. Đến năm 1253, vua Trần Thái Tông mở rộng trường và cho thu nhận cả con cái thường dân có học lực xuất sắc; cửa học không còn riêng dành cho con em hoàng tộc.
Trong khi đó, hình ảnh người thầy cũng được khắc vào lịch sử bằng một con người cụ thể. Chu Văn An làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp, tức giữ chức Hiệu trưởng, đời vua Trần Minh Tông, và là thầy dạy trực tiếp các hoàng tử. Khi ông qua đời năm 1370, vua Trần Nghệ Tông cho thờ ông ở Văn Miếu, bên cạnh Khổng Tử. Một thầy giáo được đặt vào nơi quốc gia đại tế để thờ cùng bậc thánh sư, không tấm gương nào nói rõ hơn về cách người Việt xưa kính thầy.
Ngoài ra, năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu cho những người đỗ từ khoa thi năm 1442. Nay còn 82 tấm bia tiến sĩ ghi tên các khoa thi từ 1442 đến 1779, đứng thẳng hàng trong sân, như một lời nhắc hằng trăm năm: việc học và người dạy đều đáng khắc vào đá.
Dùng đúng chữ, tránh viết sai và các từ đồng - trái nghĩa
Lỗi hay gặp nhất là viết thành tông sư trọng đạo; đúng phải là tôn sư trọng đạo, với chữ tôn nghĩa là tôn kính, khác hẳn chữ tông của tông tộc. Một lỗi nhỏ, nhưng đọc vào thấy ngay người viết chưa hiểu nghĩa gốc của câu.
Thành ngữ này có nhiều cách nói gần nhau: kính thầy yêu bạn, hiếu học, uống nước nhớ nguồn. Nho giáo còn để lại câu tam nhân đồng hành tất hữu vi sư, nghĩa là ba người cùng đi thì trong đó có người đáng làm thầy mình, nhắc rằng ai cũng có điều đáng học. Những từ trái nghĩa lại là vô ơn bạc nghĩa, bất kính, phản thầy, qua cầu rút ván.
Nếu cần dịch ra tiếng nước ngoài, người ta thường dùng cách nói mang nghĩa kính trọng bậc thầy và đạo lý; chữ nghĩa gốc quan trọng hơn cách dịch từng từ. Dù nói bằng ngôn ngữ nào, điều thành ngữ này muốn nhắc vẫn chỉ một: nhớ người đã cho mình chữ.
Biểu hiện của tôn sư trọng đạo trong đời sống
Đạo lý ấy không nằm trên giấy mà hiện rõ ở từng cử chỉ: cái cúi đầu chào giáo viên trước giờ học, câu chúc sáng Tết, tấm thiệp ngày 20/11. Người Việt xưa xếp thầy ngang hàng cha mẹ, nên cách học trò đối xử với thầy cô nói lên cả nếp nhà, nếp làng. Nhìn vào đời sống hằng ngày sẽ thấy truyền thống ấy sống thế nào, và sống ra sao trong điều kiện hôm nay.
Học trò kính thầy: từ cái chào đến việc sống xứng đáng
Biểu hiện đầu tiên và gần gũi nhất nằm ở lời ăn tiếng nói nơi lớp học. Học sinh nghe lời, lễ phép, cúi đầu chào khi gặp giáo viên, chú ý nghe giảng trong giờ học. Những việc tưởng nhỏ ấy chính là cách dân gian đo lòng kính trọng của một đứa trẻ. Sáng nào đến lớp cũng chào thầy cô, giờ ra chơi gặp giáo viên bộ môn vẫn cúi đầu chào, chứ không phải chỉ chào khi cần điểm hay cần nhờ vả. Người xưa dạy Tiên học lễ, hậu học văn, tức là trước khi học chữ phải học cách làm người, mà cái lễ đầu tiên chính là thái độ với người truyền chữ cho mình.
Kính thầy không dừng ở phép tắc bề ngoài. Học trò biết ơn là trò lắng nghe lời dạy, bày tỏ lòng biết ơn, giữ gìn đạo đức trong học tập, rồi phấn đấu hoàn thiện bản thân, làm việc tốt cho gia đình và xã hội. Một học sinh học hành đàng hoàng, lớn lên sống tử tế, đó theo cách hiểu của người xưa mới là báo đáp trọn vẹn công ơn thầy. Quà cáp đắt hay rẻ chưa nói lên điều này, nhưng một tấm bằng tốt nghiệp, một cuộc sống lương thiện thì nói được. Nhiều người lớn nhớ lại tuổi học đều thấy lời thầy cô khuyên năm xưa vẫn theo mình khi đi làm, khi lập gia đình.
Người Việt còn coi thầy cô như người cha, người mẹ thứ hai, người dìu dắt con trẻ qua những năm tháng dài nhất của tuổi nhỏ. Nhiều học sinh coi thầy cô như người cha, người mẹ thứ hai, bởi ở trường, đứa trẻ tiếp xúc với thầy cô nhiều hơn cả với bố mẹ trong giờ làm việc. Vì thế tình cảm thầy trò thường sâu nặng không khác gì tình máu mủ. Nghề dạy học cũng được xem là nghề đặc biệt, người thầy là kỹ sư tâm hồn, bởi sản phẩm của giáo dục là chính con người, thứ mà không nhà máy nào sản xuất được.
Danh ngôn phương Đông có câu: không có vĩ nhân hay anh hùng nào không qua sự dìu dắt, dạy dỗ của người thầy. Câu ấy nhắc một điều giản dị: thành đạt của ai cũng có một bàn tay đặt nền từ trước. Vì thế, việc học trò kính trọng thầy cô là sự công nhận một thực tế: không ai tự mình trưởng thành được.
Tết thầy và Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Thành ngữ mùng một Tết cha, mùng hai Tết mẹ, mùng ba Tết thầy lưu truyền lâu đời trong dân gian, và câu mồng một Tết cha, mồng ba Tết thầy được xem là nghi thức truyền thống. Tết thầy là ngày bày tỏ lòng biết ơn thầy cô, người thầy được tôn kính ngang cha mẹ.3 Sáng mùng ba Tết, học trò mặc quần áo mới, gói bánh chưng xanh, gánh quà về nhà thầy, dâng thầy chữ hồng, một gói trà, vài quả quýt. Thầy ngồi nhận lễ, hỏi han việc học, rồi lại dạy thêm đôi lời trước khi trò ra về. Cái Tết ấy không cần quà nặng, chỉ cần đúng ngày, đúng người, đúng tấm lòng. Nhà nào xa trường, con vẫn được bố mẹ dặn nhớ ngày mùng ba, đừng để Tết qua mà quên người dạy mình chữ.
Ngày 20/11 hằng năm là ngày Nhà giáo Việt Nam, ngày hội tôn vinh nghề dạy học, dịp học trò và toàn xã hội tri ân sự nghiệp trồng người. Nguồn gốc của ngày này đi qua mấy chặng. Tháng 7/1946, Liên hiệp quốc tế Các công đoàn giáo dục (FISE) được thành lập ở Paris.5 Năm 1949, tổ chức này xây dựng bản Hiến chương Các nhà giáo tại hội nghị ở thủ đô Ba Lan. Công đoàn Giáo dục Việt Nam là thành viên của FISE từ năm 1953. Sau đó, hội nghị FISE tại Warszawa diễn ra từ ngày 26 đến 30/8/1957 với 57 nước tham dự, trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam. Hội nghị quyết định lấy ngày 20/11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.
Từ đó, ngày 20/11 được tổ chức lần đầu trên toàn miền Bắc vào năm 1958. Ngày 28/9/1982, Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ, ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20/11 là Ngày Nhà giáo Việt Nam.4 Từ ngày 20/11/1982, ngày hội của giáo giới Việt Nam có tên riêng là Ngày Nhà giáo Việt Nam, trở thành ngày hội của toàn dân. Người đề xuất lấy ngày này là PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Bên cạnh đó, UNESCO đề xướng Ngày Nhà giáo thế giới từ năm 1994, tổ chức hàng năm vào ngày 5/10. Hai ngày này dễ bị lẫn, nhưng nguồn gốc khác nhau, ngày 20/11 gắn với Hiến chương Các nhà giáo, ngày 5/10 là mốc của UNESCO.
Cách tri ân hôm nay không cần rườm rà. Vào dịp lễ, học sinh và gia đình tặng hoa, quà, lời chúc cho thầy cô, một thói quen văn hóa tốt đẹp nhưng không nhất thiết đắt tiền. Quà tặng thầy cô ngày 20/11 xưa thường chỉ là dầu gội, bột ngọt, sữa, sổ, bút, những thứ tầm thường mà tình nghĩa đầy. Điều nhiều thầy cô mong nhất lại đơn giản hơn: ngày 20/11 nên thăm thầy cô trực tiếp hoặc gọi điện thoại năm, mười phút, thay vì chỉ nhắn tin trên mạng xã hội. Cuộc gọi ấy mở đầu bằng câu thầy cô còn khỏe không, rồi nhắc lại một chuyện cũ dưới mái trường, thường khiến người thầy nhớ mãi hơn cả bó hoa gửi qua chuyển phát.
Nhiều nhóm học trò cũ hẹn nhau mỗi năm về thăm trường, việc này giữ được bao nhiêu năm liền thì tình thầy trò giữ được bấy nhiêu. Ở TP HCM, nhóm nữ sinh cấp ba nhiều trường hẹn nhau ngày 20/11 hàng năm về thăm thầy cô trường Tiểu học Lê Quý Đôn. Với người xa quê, không về được thì một cuộc điện thoại đầu tiên sáng 20/11 cũng đủ nói lòng mình. Dù vậy, ngày này không phải chỉ của học sinh đang học: người đi làm nhiều năm vẫn coi 20/11 là dịp ghé lại lớp cũ, và nhiều thầy cô già vẫn đợi học trò cũ về chơi hơn là đợi quà.
Ca dao tục ngữ dân gian về công ơn thầy
Truyền thống tôn sư trọng đạo thấm sâu vào tiếng nói của dân qua nhiều câu ca dao, tục ngữ nhắc nhở ơn cha nghĩa mẹ và công thầy chớ quên. Những câu ấy người ta thuộc từ bé, dùng cả đời, và mỗi câu mang một tầng nghĩa riêng. Đọc lại từng câu, thấy ông cha xếp việc kính thầy vào hàng đầu của phép làm người.
Không thầy đố mày làm nên là câu quen thuộc nhất, thành ngữ nhắc rằng muốn thành người, thành tài, không thể thiếu người chỉ đường. Cùng nghĩa hướng đó, Học thầy không tày học bạn phân biệt vai trò của thầy và bạn trong việc học: bạn giúp tiến bộ, nhưng thầy mới đặt nền. Câu Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học lại chỉ rõ con đường: không ai giỏi tự nhiên, muốn biết phải chủ động hỏi, muốn giỏi phải chịu học. Ba câu này người lớn vẫn dùng để nhắc con khi con ngại hỏi thầy, ngại mở sách.
Một số câu nói về giá trị của chữ nghĩa. Một kho vàng không bằng một nang chữ đặt tri thức lên trên của cải vật chất, vì vàng có thể cạn mà chữ theo người suốt đời. Người không học như ngọc không mài ví con người không học với viên ngọc chưa mài, có quý mấy cũng chưa sáng. Còn Tiên học lễ, hậu học văn xếp phép tắc làm người trước cả chữ nghĩa, một trật tự mà nhiều gia đình vẫn dạy con hôm nay: chào hỏi trước, điểm số sau.
Về tình thầy trò, ca dao có câu Thầy trò như cha con, gói trọn mối quan hệ ngang hàng với gia đình. Câu Bán sách bán giáo, không bán thầy cô cho thấy ranh giới đạo đức của người xưa: nghề nghiệp, tài sản có thể đổi thay, nhưng tình thầy trò không thể bán được. Câu Thầy dạy nghề tay, mày ăn cả đời nói về ơn thầy truyền nghề cho người học: có nghề trong tay thì ăn nhờ nó cả đời, nên ơn người truyền nghề cũng phải nhớ cả đời. Ngoài ra, câu Ăn quả nhớ kẻ trồng cây tuy không nhắc chữ thầy nhưng là tinh thần chung của mọi lòng biết ơn, và thành ngữ Nhất quý nhì sư xếp nghề sư phạm vào hàng quý nhất trong xã hội xưa, chỉ sau hàng quý tộc.
Sự quan tâm của Nhà nước và xã hội với nghề dạy học
Tôn sư trọng đạo không dừng ở chuyện học trò với thầy.3 Nhà nước thể hiện qua chính sách tăng ngân sách giáo dục, tăng lương, tăng thưởng cho giáo viên, tu bổ trường học, nâng cấp trang thiết bị giảng dạy. Chính phủ còn có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhà giáo. Cùng với đó là chính sách tuyển dụng, đãi ngộ, tôn vinh và khen thưởng. Cả nước hiện có trên 1,6 triệu nhà giáo, một lực lượng mà đời sống của họ ảnh hưởng trực tiếp đến con chữ của cả dân tộc. Khi người thầy được bảo đảm cuộc sống, việc dạy học mới trọn vẹn được tâm sức.
Xã hội cũng góp phần qua việc tổ chức sự kiện, văn nghệ, biểu dương và khen ngợi giáo viên xuất sắc, tôn trọng các giáo sư, nhà giáo dục có uy tín. Ở những vùng đồi núi hiểm trở, nhiều thầy cô bám lớp, bám trường để đưa con chữ đến học sinh.1 Sự ghi nhận của cộng đồng với những người như vậy chính là tôn sư trọng đạo ở dạng sống động nhất: một lời cảm ơn gửi đến người thầy vùng cao cũng đáng quý như một lễ tri ân long trọng nơi thành phố.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn từng nói rằng thách thức lớn nhất của nhà giáo là vượt qua giới hạn của chính bản thân. Lời ấy nhắc rằng nghề dạy học cần sự rèn luyện bền bỉ từ chính người trong nghề. Sự tri ân của xã hội phải đi cùng sự thấu hiểu: hiểu công việc chấm bài đêm khuya, hiểu áp lực trước phụ huynh, hiểu những chuyến xe dài đến trường lớp vùng sâu.
Nhìn lại lịch sử, mối quan tâm này có mốc sớm đáng nhớ: năm 1919, bản yêu sách của nhân dân An Nam nêu 8 nội dung, trong đó có tự do học tập. Từ yêu sách ấy đến ngày hôm nay, việc cả nước cùng tôn vinh nghề dạy học mỗi dịp 20/11 cho thấy truyền thống kính thầy đã trở thành việc của cả cộng đồng, không còn là lễ nghi riêng của một nhóm người.

Góc nhìn tôn giáo về tôn sư trọng đạo
Câu hỏi tôn sư trọng đạo là gì đã có người trả lời rất sớm, và câu trả lời ấy không nằm trong sách Nho gia mà trong kinh tạng Phật giáo. Kinh Thiện Sinh nêu rõ phần việc của thầy và phần việc của trò, nói lên mối quan hệ thầy trò phải đi theo cả hai chiều, thiếu một bên thì bên kia không còn nghĩa lý gì.
Điều đáng nói là lời dạy ấy đặt bổn phận của người thầy lên trước. Trước khi đòi hỏi trò phải kính trọng, kinh văn liệt kê từng việc thầy phải làm cho trò, từ dạy chữ cho đến giữ trọn nghề nghiệp trong tay.
Năm bổn phận của thầy và của trò trong Kinh Thiện Sinh
Kinh Thiện Sinh là kinh Phật dạy về bổn phận của thầy và của trò, mỗi bên năm việc, đối lại với nhau. Theo bản dịch của Thích Nhật Từ, nhà giáo trong kinh có năm việc: huấn luyện học trò theo đúng chính pháp, dạy những điều học trò chưa biết, giải đáp chỗ thắc mắc, không giấu giếm nghề nghiệp, và giúp trò trưởng thành. Năm việc ấy nói lên một quan niệm rất thực tế: người thầy truyền chữ, nhưng còn phải truyền cả cách làm người.
Đạo sư trong kinh lại có sáu bổn phận, nhiều hơn học trò một việc. Đó là khuyên ngăn trò làm điều ác, hướng dẫn làm điều lành, dạy học vì thiện chí chứ không vì lợi riêng, mở mang những điều học trò chưa biết, giúp trò hiểu pháp thấu đáo, và chỉ đường cho trò đời sau được tốt lành. Kinh cũng đặt năm việc lên vai người học: hầu thầy giúp đỡ những việc cần thiết, cung kính cúng dường đảnh lễ, khát ngưỡng cầu học, kính thuận theo lời thầy dạy, và nhớ làm những điều đã được học.
Đức Phật dạy rằng năm việc ấy của hai bên tương ứng nhau, gắn kết lại thành một mối quan hệ trọn vẹn. Nhờ vậy, theo cách hiểu của các nhà nghiên cứu Phật học, tôn sư trọng đạo ở đây là mối quan hệ tương tức tương nhập: thầy và trò nương vào nhau mà tồn tại, tách biệt hay thiếu một bên thì quan hệ ấy không còn.
Điều này giải thích vì sao đạo Phật coi tình thầy trò là quan hệ tâm linh khắng khít, không có tác nhân nào chia cắt được, khác với tình cha mẹ vốn dựa trên huyết thống. Huyết thống có thể xa rời, nhưng đường dẫn dắt tâm linh, theo kinh văn, gắn bó trọn đời. Kinh điển còn có một tích truyện ở Kinh Pháp Cú, phẩm Tâm, câu 41, khi đức Phật trú tại Jetavana ở Sāvatthi. Tại đây, Ngài xác chứng Ananda là Tỳ kheo đệ nhất về đa văn, về sự cảnh giác, sức đi bộ, sự kiên trì và hầu hạ chu đáo. Việc tôn vinh một đệ tử vì đức hầu hạ thầy chu đáo cho thấy đạo Phật đặt trọng lượng thật sự vào chữ hiếu của người học trò.
Biết ơn thầy dẫn đường trong đạo Phật
Các trang Phật học giải thích tôn sư trọng đạo trong đạo Phật rất cụ thể: đó là biết ơn người thầy thắp sáng con đường và gìn giữ ngọn đèn Chính pháp trong tâm người học. Thầy ở đây không dừng ở người dạy chữ, mà mở rộng ra cả Tam Bảo, ba ngôi báu gồm Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo, là vị thầy dẫn đường cho người tu tập. Một số trang Phật học còn kể đến Tam Sư gồm Điểm Truyền Sư, Dẫn Bảo Sư và Giảng Sư, và cho rằng không tôn kính các bậc thầy ấy là vong ơn.
Ngược lại, lời dạy về đức biết ơn trong đạo Phật cũng rất nghiêm khắc. Kinh A-hàm ghi lời Phật: người biết ơn đền ơn, dù xa ngàn dặm cũng như ở gần ta; người không biết ơn, dù ở cạnh cũng cách xa ngàn dặm. Khoảng cách giữa người và người, theo câu kinh ấy, không đo bằng địa lý mà đo bằng lòng biết ơn.
Các trang Phật học khi bàn về đạo lý này cũng đặt điều phải làm lên cả hai phía: thầy không được ỷ Sư quyền mà hiếp đáp hậu học, hậu học không được lừa dối hay khinh khi Sư phụ. Nhìn từ đạo Phật, tôn sư trọng đạo vì thế là một giao ước hai chiều, không phải sự phục tùng mù quáng: thầy giữ trọn chữ tâm khi dạy, trò giữ trọn chữ hiếu khi học. Truyền thống dân gian Á Đông còn lưu chuyện Lam Thái Hoà nhờ đức tôn sư trọng đạo mà được liệt vào hàng một trong Bát Tiên, như một minh chứng cho việc đức hiếu với thầy được ghi nhận xứng đáng.
Điều ngược với tôn sư trọng đạo và cách giữ gìn hôm nay
Giao ước hai chiều ấy đang lung lay. Một câu chào, một cái cúi đầu trước thầy cô từng là thước đo nên người của học trò. Nay thước đo ấy vắng bóng nơi không ít lớp học: thầy đứng giảng, trò cúi gằm vào điện thoại; phụ huynh vào trường đòi quyền lợi như đi chợ. Đạo lý mà cha ông giữ trọn một đời đang bị thử thách ngay trong khuôn viên trường.
Điều đáng lo không nằm ở vài vụ việc lẻ tẻ, mà ở chỗ những hành vi ấy dần trở nên quen mắt. Khi vô lễ được coi là bình thường, khi đánh thầy chỉ là tin nóng một hôm rồi thôi, truyền thống đứng trước nguy cơ mất chỗ đứng thật sự trong đời sống.
Những biểu hiện trái với tôn sư trọng đạo
Biểu hiện dễ thấy nhất là thiếu lễ phép trong tiếp xúc. Nhiều em gặp thầy cô trên hành lang, ở cổng trường hay ngoài phố chỉ lướt qua như gặp người dưng, không chào, không cúi đầu. Trong lớp, có em cãi lại bằng giọng khiêu khích, nói nặng lời, thậm chí dùng ngôn từ thô tục xúc phạm người đứng trên bục giảng. Những câu nói ấy văng ra tưởng chỉ là phút bốc đồng, nhưng để lại vết lâu dài trong lòng người thầy và cả tập thể lớp.
Ở mức sâu hơn là thái độ với việc học. Không học bài, không làm bài tập thầy cô giao, trốn học, vi phạm nội quy trường lớp, coi thường hẳn một môn học chỉ vì thấy không cần cho mình. Học trò làm vậy là đang bỏ qua chính công sức người thầy dồn vào từng tiết dạy. Gian lận thi cử như quay cóp, mang tài liệu trái phép vào phòng thi cũng thuộc dạng này: trò gian lận là tự phủ nhận điều thầy truyền đạt, coi kết quả giả tạo quan trọng hơn lời dạy thật.
Có nhóm hành vi nữa nằm ngoài lớp học nhưng vẫn đếm vào số này. Đó là học sinh sa vào tệ nạn xã hội, biết mình sai mà không chịu nhận, không chịu sửa. Và cả những người đã rời ghế nhà trường lâu năm, đi làm ổn định rồi lại quên hẳn thầy cũ, gặp ở đâu cũng giả vờ không thấy. Chừng nào những biểu hiện này còn phổ biến, môi trường học đường và đạo đức văn hóa nơi ấy cứ thế chịu tổn hại mỗi ngày.
Hồi chuông báo động: bạo lực và lối nhìn “dịch vụ giáo dục”
Gần đây, những vụ việc khiến người đọc xót xa cứ lần lượt xuất hiện: học sinh vô lễ, thậm chí hành hung giáo viên; cha mẹ học sinh đến trường đôi co, mắng chửi, có lúc xông thẳng vào lớp tát cô giáo ngay trước mặt cả lớp. Nhà nghiên cứu Trần Quí Thanh từng than phiền về chuyện trò đánh thầy, phụ huynh xông vào trường xúc phạm người dạy. Từng chuyện ấy được xem như hồi chuông báo động cho sự xuống cấp của một đạo lý cũ.2
Nguyên nhân sâu xa nằm ở cách nhìn đã đổi. Một bộ phận cha mẹ và học sinh coi người thầy đơn giản là người cung cấp dịch vụ giáo dục, trả học phí xong thì được hưởng quyền lợi đương nhiên, muốn gì đòi nấy. Giáo dục vốn là ngành đặc thù, thầy trò là quan hệ truyền lửa chứ không phải quan hệ mua bán. Ép nó thành dịch vụ thuần túy, hệ lụy nguy hiểm nhất là học sinh và cha mẹ không còn tôn trọng thầy cô nữa.2
Có điều, trách nhiệm không dồn hết về một phía. Kinh tế thị trường khiến chất lượng, đạo đức và công tác quản lý giáo dục ở một số nơi, một số lúc xuống cấp, chữ nhà giáo giảm bớt giá trị thiêng liêng trong mắt xã hội. Bản thân một số ít giáo viên phát ngôn, ứng xử thiếu chuẩn mực cũng làm lòng tin của mọi người sa sút.1 Thêm nữa, nhiều quan niệm cũ không còn hợp: giáo dục ngày nay không còn một chiều, học sinh được coi là trung tâm, người thầy truyền dạy kiến thức nhưng vẫn phải tôn trọng người học.
Dù vậy, ranh giới pháp lý thì rõ và không đổi. Mọi hành vi bạo lực trong nhà trường đều bị nghiêm cấm.2 Theo khoản 3 Điều 52 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, nếu nạn nhân yêu cầu, người đánh nhau phải công khai xin lỗi và chi trả toàn bộ chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Trường hợp hành vi gây tỷ lệ thương tật trên 12%, người phạm tội có thể bị truy cứu theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, với khung hình phạt từ cải tạo không giam giữ đến ba năm tù, hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Đạo lý có thể xuống cấp, nhưng pháp luật thì không khoan nhượng.
Cách gìn giữ truyền thống cho hợp thời hôm nay
Điểm bắt đầu vẫn là gia đình, nơi hình thành nhân cách trước cả khi con bước vào lớp một. Trẻ nhìn cha mẹ chào hỏi cô giáo ở cổng trường, nghe cha mẹ nói về người dạy toán của mình bằng giọng kính trọng, thì lớn lên tự nhiên biết quý thầy. Ngược lại, cha mẹ vào trường mắng cô giáo trước mặt con thì mọi bài học về lễ nghĩa trong nhà đều đổ sông đổ bể. Gia đình cần chia sẻ cùng giáo viên, cùng nhau cải thiện chất lượng dạy học, và nhờ vậy gánh nặng đè lên nghề giáo cũng nhẹ bớt một phần.
Đổi lại, người thầy cũng phải xứng với sự kính trọng ấy. Thầy cô là tấm gương về đạo đức và lối sống, yêu thương học sinh thật lòng thì trò mới hứng thú đến lớp. Về phía nhà trường, cần xây dựng môi trường học tập tích cực, động viên và hỗ trợ học sinh, cùng chương trình đào tạo, giáo trình đậm giá trị tôn sư trọng đạo để định hình nhân cách học sinh, sinh viên ngay từ trong bài học. Nhà nước cần chính sách thu hút tài năng và bảo đảm đời sống cho nhà giáo. Xã hội cần nhắc nhở cả hai phía, thầy và trò, xem lại thái độ, cách ứng xử của mình.
Thời công nghệ thông tin, học trò có thể tự tra kiến thức từ vô số nguồn, quan điểm đa dạng hơn xưa nhiều, nên cách thực hiện truyền thống này cũng phải đổi. Kính thầy không đồng nghĩa với im lặng nghe theo mọi điều. Phản biện và đối thoại trong quan hệ thầy trò, khi làm đúng cách, giúp bảo đảm đa dạng quan điểm, phát triển tư duy sáng tạo, đồng thời cải thiện chất lượng giáo dục và thúc đẩy tiến bộ cho cả hai phía. Trò dám hỏi, dám tranh luận trên nền tảng tôn trọng, thầy cởi mở lắng nghe: đó chính là hình thái mới của đạo lý cũ, vẫn giữ được tinh thần cha ông để lại mà không biến lớp học thành nơi một người nói, mọi người nghe.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- Tôn sư trọng đạo (baocamau.vn) ↩a ↩b
- Gìn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo” (nhandan.vn) ↩a ↩b ↩c ↩d
- Chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2025 (vietnamnet.vn) ↩a ↩b
- Ngày Nhà giáo Việt Nam (Wikipedia) ↩
- Ai là người đề xuất lấy 20.11 là Ngày Nhà giáo Việt Nam? (laodong.vn) ↩
- Tôn sư trọng đạo (baotintuc.vn)
- tôn sư trọng đạo - Tin tuc CẬP NHẬT , ton su trong dao - Báo điện tử Tuổi Trẻ (tuoitre.vn)
- Giáo dục truyền thống 'tôn sư trọng đạo' qua ngày lễ Tết thầy (dnpu.edu.vn)
- Văn hóa “Tôn sư trọng đạo” của người Việt Nam (sggp.org.vn)
- Nho giáo Việt Nam (Wikipedia)