Chúc Mừng Năm Mới

Phong tục

Tết Nguyên Đán là gì? Nguồn gốc và ý nghĩa với người Việt

Tết Nguyên Đán nghĩa là buổi sáng đầu năm, ngày mở đầu theo lịch âm. Bài viết giải nghĩa từng chữ, bàn về nguồn gốc từ văn minh lúa nước hay giao thoa Đông Á, trình tự Tất niên, Giao thừa, Tân niên cùng phong tục, món ăn để bạn hiểu và chuẩn bị Tết trọn vẹn.

Trả lời nhanh

Tết Nguyên Đán là gì?

Tết Nguyên Đán là lễ hội đầu năm theo âm lịch của người Việt, còn gọi Tết Cả hay Tết Ta. Về nguồn gốc, Tết Nguyên Đán là gì và từ đâu đến vẫn còn nhiều cách lý giải, chưa có kết luận một chiều.

Đọc đoạn này

33 phút đọc

Tết Nguyên Đán là gì: nghĩa từng chữ và cách tính ngày

Tết Nguyên Đán là lễ hội đầu năm theo âm lịch của người Việt, còn gọi Tết Cả hay Tết Ta.2 Về nguồn gốc, Tết Nguyên Đán là gì và từ đâu đến vẫn còn nhiều cách lý giải, chưa có kết luận một chiều. Hiểu tên gọi và cách tính ngày là bước đầu để nắm cho chắc tết lớn nhất này.

Mỗi năm khi cành đào bắt đầu nhú nụ, câu hỏi “Tết năm nay rơi vào ngày nào” lại được đặt ra. Câu trả lời không nằm ở một con số cố định, mà nằm ở cách người xưa tính thời gian theo mặt trăng. Trước khi tìm hiểu vì sao ngày Tết mỗi năm một khác, cần nắm cho chắc nghĩa của từng chữ trong cái tên của tết lớn nhất này.

Nguyên là khởi đầu, đán là buổi sớm: Tết Nguyên Đán nghĩa là buổi sáng đầu năm

Nguyên đán là buổi sáng đầu tiên của năm mới, trong đó nguyên là khởi đầu và đán là buổi sớm.1 Ghép lại, Tết Nguyên Đán chính là tết mở đầu năm mới, diễn ra vào ngày đầu tiên của năm theo âm lịch. Tên gọi này đọc lên nghe đơn giản, nhưng từng chữ đều mang ý người xưa chọn rất kỹ.

Chữ Tết cũng có gốc riêng. Từ này xuất phát từ chữ Hán, đọc âm Hán Việt là Tiết, nghĩa là đốt tre trúc, mở rộng chỉ một phiến đoạn thời gian. Theo cách hiểu đó, Tết là dạng rút gọn của Tết Nguyên Đán. Nói cách khác, tết thuở đầu là những mốc thời gian con người nhận ra trong vòng quay của trời đất, chứ chưa phải một ngày lễ riêng lẻ. Người xưa sống bằng nghề nông, khí hậu đổi thì việc đồng đổi theo, nên những mốc ấy quan trọng hơn cả ngày nghỉ.

Ngoài ra, chữ nguyên còn mang một tầng nghĩa khác. Ngoài nghĩa khởi đầu, chữ này còn nói lên sự đầy đủ, tròn trịa, gắn với ước muốn cuộc sống ấm no của người dân. Một chữ, hai tầng ý: vừa chỉ thời điểm bắt đầu, vừa gửi gắm mong mỏi đủ đầy. Tết Nguyên Đán vì thế là lời chúc được nén lại thành hai âm tiết, chứ không đơn thuần là nhãn dán lên lịch. Bàn thờ ngày đầu năm bày biện đủ màu, mâm cỗ đủ món, cũng là cách người Việt trả lời cho chữ nguyên ấy.

Cách gọi tên như thế cho thấy người Việt nhìn ngày đầu năm như một buổi sớm mai của cả năm. Sáng sớm tốt thì ngày tốt, đầu năm thuận thì cả năm thuận. Tết Nguyên Đán vì thế là thời khắc được chọn làm mốc mở màn, để mọi việc về sau đều tính từ đó mà khởi đầu. Ai cũng muốn mở màn cho suôn sẻ: nhà nhà dọn cửa, gói bánh, chuẩn bị lễ từ nhiều ngày trước, chính là để buổi sáng đầu năm ấy được trọn vẹn.

Lịch âm và chu kỳ mặt trăng quyết định ngày Tết

Tết Nguyên Đán được tính theo âm lịch, tức chu kỳ của mặt trăng.1 Lịch âm là cách tính ngày theo chu kỳ mặt trăng, có quy luật ba năm nhuận một tháng. Vì thế ngày đầu năm trên dương lịch không đứng yên: nó trôi theo vòng trăng, chứ không bám theo mặt trời như ngày đầu năm dương lịch.

Quy luật ba năm nhuận một tháng khiến năm âm lịch ngắn hơn hay dài hơn năm dương lịch một khoảng đáng kể. Tháng nhuận được chèn vào để hai cách tính không lệch xa nhau. Chính việc chèn thêm tháng này làm ngày mùng Một tháng Giêng xê dịch khá xa giữa các năm: năm thì Tết đến sớm, năm thì Tết đến muộn, nhưng luôn nằm trong một khung nhất định. Người đi làm xa hay tính nhầm chuyện này: tưởng năm nào Tết cũng vào cuối tháng Một, đến khi mua vé về quê mới thấy năm đó Tết rơi giữa tháng Hai.

Khung đó khá rõ. Ngày đầu năm của Tết Nguyên Đán không bao giờ trước ngày 21/1 và không sau ngày 19/2 dương lịch. Nói gọn, Tết luôn rơi vào khoảng mười ngày cuối tháng Một đến ngày thứ ba tháng Hai dương lịch, thường trong khoảng từ 23/1 đến không quá 19/2. Ai muốn đoán trước ngày Tết chỉ cần nhớ hai mốc chặn này là không bao giờ đoán trật. Vợ chồng chuẩn bị cưới, gia đình sắp xếp việc họp mặt hay đặt vé xe đều có thể dựa vào khung này để tính trước cả tháng.

Tuy vậy, ngày mùng Một mới chỉ là điểm mở đầu. Dịp Tết theo nếp truyền thống thường kéo dài khoảng bảy đến tám ngày cuối năm cũ và bảy ngày đầu năm mới, tức từ 23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng.2 Người xưa kể Tết từ mồng Một đến hết mồng Bảy, đủ tám ngày. Sau ngày đầu năm, các lễ hội tiếp tục trong mười lăm ngày, đỉnh điểm là lễ hội đèn lồng. Cả dải thời gian ấy mới là dáng dấp đầy đủ của một cái Tết, chứ không gói gọn trong ba ngày nghỉ chính thức từ mùng Một đến mùng Ba. Ở quê, mồng Bảy vẫn còn là ngày đi chợ lễ hội, còn ở thành phố, nhiều gia đình chỉ gói gọn được hai ba ngày đầu rồi lại lên đường đi làm.

Cách tính này giải thích luôn chuyện ngày Tết mỗi năm mỗi khác. Năm dương lịch đi theo mặt trời, năm âm lịch đi theo mặt trăng, hai vòng quay không khớp nhau trọn vẹn, nên phải có tháng nhuận làm cầu nối. Nhờ có quy luật chèn tháng ấy, ngày Tết tuy xê dịch nhưng không bao giờ trượt ra ngoài khung cuối tháng Một đến giữa tháng Hai dương lịch. Ai giữ lịch âm trong nhà thì việc tính ngày Tết trở nên nhẹ nhàng: chỉ cần xem tháng Chạp có ba mươi hay hai mươi chín là biết ngay đêm giao thừa rơi vào hôm nào.

Tết Cả, Tết Ta, Xuân tiết: những tên gọi khác của lễ hội đầu năm

Tết Nguyên Đán còn được gọi Tết Cả, Tết Ta hay Tết Âm lịch, diễn ra vào mùa xuân.2 Cách gọi Tết Cả cho thấy đây là dịp cả họ cả làng cùng nghỉ, khác hẳn những ngày giỗ hay tết nhỏ; cách gọi Tết Ta nhấn mạnh nó là tết của người Việt, gắn với lịch riêng của mình. Mỗi tên gọi gắn một cách nhìn: dịp trọng nhất trong năm, tết của người Việt, tết theo lịch riêng của mình. Nghe người lớn trong nhà gọi “Tết Cả” là hiểu ngay đó là dịp cả nhà cả làng cùng đón, khác hẳn những ngày thường.

Trong khi đó, các nước Đông Á cũng đón ngày này với tên riêng: Trung Quốc gọi là Chunjie, Tây Tạng gọi là Losar, Hàn Quốc gọi là Seollal. Riêng tại Trung Quốc, từ ngày 27/9/1949, tết âm lịch được gọi chính thức là Xuân tiết, còn ngày đầu năm theo dương lịch mới giữ tên Nguyên đán.2 Cùng một thời điểm đón năm mới âm lịch, mỗi nơi một tên, và tên gọi nào cũng phản ánh cách hiểu của dân tộc đó về buổi sáng đầu năm. Người Việt gặp bạn bè nước ngoài hỏi về dịp lễ này thì chỉ cần nói rõ đó là ngày đầu năm theo lịch âm là đủ, khỏi lo lẫn với Tết Tây.

Nguồn gốc Tết Nguyên Đán: từ Trung Quốc hay từ đất Việt

Mỗi nước một tên gọi, nhưng câu hỏi đáng quan tâm hơn là lễ hội lớn nhất năm này bắt đầu từ đâu. Nguồn gốc Tết Nguyên Đán đến nay vẫn có nhiều cách lý giải, và mỗi cách đều có căn cứ riêng của nó.

Một hướng cho rằng Tết theo lịch âm và các lễ tiết thiên văn truyền từ Trung Quốc vào đất Việt.2 Hướng khác tìm dấu vết của nó ở nền văn minh lúa nước thời vua Hùng. Hai cách lý giải này không loại trừ nhau hoàn toàn, và đọc kỹ từng luận cứ sẽ thấy vấn đề phức tạp hơn nhiều so với những gì thường nghe.

Giả thuyết du nhập từ Trung Quốc thời Bắc thuộc

Bắc thuộc là thời kỳ khoảng một nghìn năm đất Việt bị các triều đại phong kiến Trung Quốc cai trị. Nhiều ý kiến cho rằng trong quãng thời gian ấy, kèm theo bộ máy quan lại, chữ viết và phép tính lịch, người Việt cũng tiếp nhận cả lễ mừng đầu năm theo lịch âm. Đây là giả thuyết phổ biến nhất hiện nay khi bàn về nguồn gốc của Tết.

Cách lý giải này dựa trên một sự kiện lịch sử rõ ràng: ở Trung Quốc, ngày Tết xuất hiện rất sớm. Theo các ghi chép lịch sử Trung Quốc, việc cử hành lễ đầu năm có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế, và ngày Tết không phải lúc nào cũng cố định một tháng mà thay đổi theo từng thời kỳ.

Sự thay đổi ấy gắn với quan niệm của các vua chúa xưa về thứ tự vạn vật. Người đời trước tin rằng giờ Tý có trời, giờ Sửu có đất, giờ Dần sinh ra loài người, nên mỗi triều đại chọn một mốc khởi đầu khác nhau để tỏ ý tôn trọng điều mình cho là quan trọng nhất. Nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Dần, tức tháng Giêng âm lịch, làm đầu năm. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu làm tháng đầu năm.2 Còn Nhà Chu chọn tháng Tý, tức tháng mười một âm lịch.

Sau khi Nhà Hán thống nhất, tháng Dần dần được dùng làm mốc đầu năm cho cả nước và truyền lại qua các thế hệ. Với những ai theo giả thuyết du nhập, chính cách tính lịch và lễ tiết ấy đã theo các quan lại phương Bắc vào Giao Chỉ, dần dần trở thành Tết của người Việt. Dù vậy, luận cứ này cũng bị phản biện: nếu chỉ là lễ tiết nhập khẩu, khó lý giải vì sao Tết Việt giữ được nhiều nét riêng mà Trung Quốc không có.

Luận cứ Tết bắt nguồn từ văn minh lúa nước của người Việt

Bên cạnh giả thuyết trên, một hướng lý giải khác cho rằng Tết có gốc ở chính đất Việt, hình thành từ thời vua Hùng dựng nước, gắn với sự tích bánh chưng và bánh dày. Luận cứ của hướng này đặt Tết ngay giữa đời sống nghề nông: người Việt trồng lúa nước từ ngàn xưa, lấy gạo làm lương thực chính, nên lễ lớn nhất năm tất yếu phải xoay quanh cây lúa và mùa vụ.

Theo quan niệm phổ biến, Tết vốn là lễ hội tôn vinh cây lúa, dịp cảm tạ trời đất vì mùa màng bội thu.2 Các cộng đồng người dùng gạo làm lương thực chính, chủ yếu ở Việt Nam và một phần miền Nam Trung Quốc, đều giữ lễ này. Gạo nếp được chọn làm bánh cúng tổ tiên ngày đầu năm vì là sản vật chính của nông nghiệp lúa nước.

Một nét đặc trưng mà Trung Quốc không có là tục thờ cúng gia tiên vào dịp đầu năm của người Việt.

Còn về thời điểm, người Bách Việt từng ăn Tết vào tháng Tý, tức tháng mười một âm lịch, đến thời Hán mới chuyển về tháng Dần. Theo Đại Nam nhất thống chí Nhà Nguyễn, ở vùng Bất Bạt và Mỹ Lương thuộc Xứ Đoài xưa, dân địa phương hàng năm vẫn lấy tháng mười một làm đầu năm.2 Một số nhà nghiên cứu vì thế cho rằng thời Hùng Vương, Tết diễn ra vào tháng Tý, sau này do ảnh hưởng Trung Quốc mà người Việt chuyển sang ăn Tết tháng Dần như ngày nay.

Tết hình thành từ giao thoa văn hóa Đông Á

Nhìn hai luận cứ đặt cạnh nhau, nhiều nhà nghiên cứu chọn cách dung hòa: Tết Nguyên Đán hình thành từ giao thoa văn hóa Đông Á, không xuất phát từ một quốc gia duy nhất. Cách nhìn này nhận cả hai phía đều có phần đóng góp.

Phía Trung Quốc có lịch âm, các lễ tiết tính theo thiên văn, truyền thuyết con quỷ Nian và hệ mười hai con giáp lan rộng ra nhiều nước. Phía Việt Nam có nghề lúa nước, bánh chưng, bánh dày và tục cúng gia tiên mang dấu ấn riêng. Tết của Việt Nam và Trung Quốc vì thế ảnh hưởng lẫn nhau qua hàng thế kỷ, song mỗi nước vẫn giữ những đặc trưng không thể trộn lẫn. Cùng một ngày đầu năm âm lịch, nhưng mâm cỗ, tục lệ và không khí lại khác nhau rõ rệt. Nói cách khác, hỏi Tết của ai cũng như hỏi cội nguồn của một dòng sông hợp từ nhiều nhánh, không nhánh nào tự mình tạo nên dòng chảy lớn.

Dấu tích Tết xưa trong sử sách và ghi chép của người phương Tây

Dù theo giả thuyết nào, sử sách để lại vài dấu vết cho thấy người Việt mừng đầu năm từ rất sớm. Sách Giao Chỉ Chí chép người Giao Quận hội nhóm từng phường, nhảy múa, hát ca, ăn uống nhiều ngày để mừng mùa cấy trồng mới, cả nhà Quan lang và Chúa động đều tham gia.1 Bức tranh ấy cho thấy lễ hội đầu năm thời đó mang màu sắc nông nghiệp đậm nét, đúng như luận cứ gắn Tết với nghề trồng lúa nước.

Bên cạnh đó, những ghi chép của người phương Tây ở thế kỷ XVII về Tết ở Đàng Ngoài vẽ nên cảnh tượng sống động. Theo đó, mười lăm hôm trước khi hết năm, khắp trong xứ mở phiên chợ miễn thuế, ai cũng được phép đem hàng tốt hạng nhất ra bày bán.4 Lệ đi lễ và đem biếu quà cáp của người dưới đối với người trên hôm đầu năm khi đó đã bị chế định thành đạo luật rất nghiêm khắc, không ai có thể bỏ đi. Các quan gửi phẩm vật quý giá dâng vua, học trò tết thầy, con cháu biếu gia trưởng.

Những chi tiết đời thường trong cùng ghi chép ấy còn cho thấy nhiều tục vẫn tồn tại đến nay. Chiều hôm ba mươi Tết, mọi người trồng cây nêu trước nhà để tiêu trừ tà ma.4 Sau giao thừa, không ai được phép đóng cửa vì cho rằng ông bà hôm ấy về nhà, và trong ba hôm Tết người ta không quét nhà, sợ quét đi vận may của năm mới. Đọc những dòng viết, người Việt hôm nay dễ nhận ra chính nếp nhà của mình: chợ Tết, quà biếu, cây nêu, cửa mở và ba ngày không quét nhà. Nguồn gốc ngày Tết chưa có lời giải chung, nhưng cái nếp ấy đã theo người Việt qua hàng trăm năm, đủ lâu để không ai còn hỏi vì sao phải giữ.

Một nông dân đội nón lá cúi xuống cấy mạ giữa ruộng ngập nước bậc thang, sương mù buổi sớm, núi mờ và vài nhà sàn ven ruộng
Ảnh minh họa

Ý nghĩa của Tết Nguyên Đán với người Việt

Không có ngày nào trong năm khiến cả nước cùng làm một việc như ngày Tết: tàu xe chật khách, chợ quê đông người, bàn thờ nhà nào cũng thắp hương. Với người Việt, đây là lễ hội lớn nhất, quan trọng nhất trong năm, và cũng là lúc con người tìm về những điều xa nhất.

Điều người Việt tìm về mỗi dịp đầu năm là nhiều hơn một mâm cỗ. Đó là thời khắc trời đất giao hòa, là chuyến về với gia đình và tổ tiên, và nay còn là ngày lễ được cả thế giới ghi nhận. Ba lớp nghĩa ấy đan vào nhau, làm nên sức sống của Tết qua hàng nghìn năm.

Thời khắc trời đất giao hòa và khởi đầu mới của con người

Người phương Đông quan niệm Tết là thời điểm trời đất giao hòa, khi khoảng cách giữa con người và thần linh rút ngắn lại.1 Giao thừa, khoảnh khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, vì vậy được xem là giờ thiêng liêng nhất: đất trời, thần linh và con người gặp nhau ở cùng một nhịp. Nhiều gia đình chọn đứng lễ ngoài trời đúng giờ ấy, lặng lẽ dâng hương trước khi tiếng chào năm mới vang lên.

Cách nhìn này bắt rễ từ tư duy hài hòa Thiên - Địa - Nhân, tức sự hòa hợp giữa trời, đất và người. Năm cũ khép lại, năm mới mở ra, và con người đứng giữa hai dòng thời gian để thắp một nén hương, xin một năm bình an. Nhờ vậy, Tết không đơn thuần là đổi ngày trên lịch mà là một điểm chuyển giao có ý nghĩa tâm linh rõ rệt.

Trước thời khắc ấy, mọi việc đều nhắm tới chữ mới. Nhà cửa được dọn dẹp, sắm sửa, trang hoàng lại cho đẹp, với hy vọng năm mới an lành, sung túc. Cái cũ về vật chất được thay, và cái cũ về tâm trạng cũng vậy: Tết là dịp để mọi người gác buồn phiền của năm cũ, lập kế hoạch và hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

Ngược lại, những điều không may của năm cũ được tin là nên đẩy lùi, nhường chỗ cho vận khí mới. Cầu tài lộc, mong sức khỏe, chúc nhau lời tốt đẹp đầu năm đều xuất phát từ một tâm thế chung: khởi đầu phải sáng. Người Việt vì thế coi việc đón giao thừa cho đến mấy ngày đầu năm là chuỗi hành động làm mới cả nhà cửa, cả lòng người, chứ không phải chỉ một buổi lễ rồi thôi.

Tết là trở về: đoàn viên gia đình và tưởng nhớ tổ tiên

Nếu phải chọn một chữ để nói về Tết với người Việt, nhiều người sẽ chọn chữ về. Về quê ăn Tết đã trở thành nét đẹp quay về với cội nguồn: người đi xa dừng công việc, xếp hàng mua vé, gánh balo về với cha mẹ dù đường sá xa mấy. Cuộc di chuyển hàng năm ấy giống một cuộc hành hương tìm về nguồn cội, nơi có mâm cơm tất niên và tiếng cười của gia đình sum họp trong ba ngày Tết.

Người nông dân xưa làm nông nghiệp trồng lúa nước, chia năm thành hai thời kỳ thời vụ và nông nhàn, và Tết rơi đúng dịp nông nhàn, khi đồng ruộng đã xong việc. Do đó, đây là khoảng trời duy nhất trong năm để cả dòng họ sum họp, cúng gia tiên mà không lo mùa màng. Tết vì thế gắn chặt với nhịp sống nông nghiệp, không phải một ngày lễ đặt ra ngoài đời thường.

Thêm vào đó, Tết còn là dịp tạ ơn những lực lượng che chở mùa màng mà người nông dân xưa tin tưởng: thần Đất, thần Mưa, thần Mặt Trời, thần Sấm. Dù gọi là mê tín hay tín ngưỡng, người Việt xưa luôn đặt mình trong vòng tay của thiên nhiên, và dịp đầu năm là lúc cảm ơn trước khi gieo một mùa mới.

Người đã khuất cũng về trong những ngày này. Dịp Tết, các gia đình sửa sang mộ phần, chăm chút bàn thờ gia tiên, cúng cơm, cúng thờ và thăm mộ để nhớ về tổ tiên. Người Việt tin rằng tổ tiên hiện diện trên bàn thờ gia tiên dịp Tết, chứng kiến lòng thành của con cháu.1 Một nén hương, một mâm cỗ đặt lên bàn thờ, vì vậy không phải hình thức mà là cách con cháu báo cáo với nguồn cội rằng gia đạo vẫn vẹn nguyên.

Đoàn viên và tưởng nhớ vì vậy là hai mạch nghĩa đan chặt vào nhau, làm nên điều người Việt tìm về mỗi dịp đầu năm. Tết gói quê hương, ký ức, giá trị văn hóa truyền thống và những việc tưởng chừng nhỏ như gói bánh chưng, ăn cơm tất niên, lì xì cho trẻ con thành một chỉnh thể. Bỏ đi một chi tiết, Tết vẫn còn; nhưng thiếu sự sum họp và nén hương cho tổ tiên, Tết mất đi phần hồn của nó.

Tết Việt được thế giới biết đến và công nhận

Quy mô của ngày lễ đầu năm âm lịch nay vượt xa biên giới các nước Đông Á. Theo số liệu tổng hợp, gần 2 tỷ người trên khắp thế giới đón Tết Nguyên đán; riêng The Washington Post ghi nhận hơn 1 tỷ người kỷ niệm ngày này. Ở San Francisco, nơi có đông cộng đồng người châu Á, Tết đã thành sự kiện văn hóa của chính thành phố, của người Việt, người Hoa và cả những cư dân bản địa.

Công nhận mang tính chính thức cũng đã đến. Nghị quyết của Liên Hợp Quốc về ngày lễ này có hiệu lực từ năm 2024, theo đó các cơ quan, phái đoàn Liên Hợp Quốc được khuyến nghị không tổ chức họp quan trọng vào ngày đầu năm âm lịch. Một ngày lễ của phương Đông vì vậy được dành riêng một khoảng trống trên lịch làm việc của tổ chức đa phương lớn nhất thế giới.

Tại Hoa Kỳ, bang California đã đi trước khi Thống đốc Jerry Brown ký Dự luật 892 thành luật ngày 26/8/2018. Luật khuyến khích trường học công và các cơ sở giáo dục của bang tổ chức sự kiện công nhận ý nghĩa của Tết Nguyên đán, để học sinh gốc châu Á thấy ngày lễ của gia đình mình hiện diện ngay trong lớp học.

Với người Việt, những ghi nhận này có ý nghĩa riêng. Ngày Tết mà ông cha giữ gìn qua bao thế kỷ nay được thế giới nhìn nhận như một di sản chung của nhân loại, và mỗi gia đình đón Tết trong nước hay xa quê đều góp một phần vào bức tranh ấy.

Đọc thêm: Tiếng Việt là gì? Nguồn gốc, thanh điệu và lý do được quan tâm

Trình tự Tết theo ba giai đoạn: Tất niên, Giao thừa, Tân niên

Từ ngày 23 tháng Chạp đến hết mùng Bảy tháng Giêng, việc nhà cửa, mâm cỗ, hương hoa của người Việt đều xếp theo một mạch rõ ràng. Nắm được mạch này, người trẻ lần đầu lo Tết cho gia đình sẽ biết việc gì đến trước, việc gì để sau, không bị động khi họ hàng hỏi han.

Trước khi đi vào từng việc, cần nhớ một mốc quan trọng: nghi lễ lớn nhất của dịp này diễn ra vào đêm cuối cùng của năm cũ, giữa giờ Hợi và giờ Tý. Đó là thời khắc cả gia đình dừng lại, dâng hương và chờ năm mới bước tới.

Ba khoảng thời gian của Tết và ngày giờ dâng lễ trừ tịch

Phong tục ngày Tết của người Việt chia làm ba khoảng thời gian: Tất niên, Giao thừa và Tân niên. Tất niên là đoạn cuối năm, khi gia đình lo xong việc cũ và mời tổ tiên về ăn Tết; Giao thừa là đêm chuyển giao năm; Tân niên là những ngày đầu năm mới, từ mùng một trở đi, với các lễ chúc Tết và mừng tuổi. Chia như vậy giúp việc chuẩn bị không dồn vào một đêm mà trải đều từ 23 tháng Chạp trở đi.

Theo sách phong tục, lễ trừ tịch, tức nghi lễ tiễn năm cũ và đón năm mới, được tiến hành giữa giờ Hợi ngày 30 (hoặc 29 tháng Chạp nếu năm đó tháng thiếu) và giờ Tý mùng 1 tháng Giêng.2 Giờ Hợi rơi vào khung cuối buổi tối, giờ Tý mở đầu ngày mới theo cách tính lịch âm, nên khoảnh khắc giao thời ấy thường nằm quanh nửa đêm. Ngày xưa, công sở còn có lệ cất triện, tức khóa sổ việc công, vào hòm từ 25 tháng Chạp. Đến 25 tháng Giêng âm lịch, quan lại mới tiếp tục việc thường, để mọi người yên tâm lo Tết suốt gần một tháng.

Tết Táo Quân vào 23 tháng Chạp âm lịch và Tất Niên vào ngày 29 hoặc 30 tháng Chạp là hai mốc mở đầu cho trình tự ấy.1 Biết rõ ba giai đoạn cùng hai mốc này, người lo Tết có thể vạch sẵn lịch cho gia đình mình: cuối tuần gần 23 tháng Chạp cúng ông Công ông Táo, tuần cuối năm tảo mộ và dọn nhà, ngày 29 hoặc 30 làm cỗ tất niên, đêm ấy đón giao thừa, rồi mấy ngày đầu năm đi chúc Tết.

Chuẩn bị trước giao thừa: tiễn Táo quân, tảo mộ, dọn nhà, gói bánh

Việc đầu tiên trong trình tự cuối năm là lễ tiễn Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp. Theo quan niệm dân gian, ngày này ông Công, ông Táo cưỡi cá chép về trời tâu trình Ngọc Hoàng việc tốt xấu của gia đình trong năm qua. Vì vậy sáng hôm ấy các gia đình dọn bếp sạch sẽ, chuẩn bị mâm cỗ đồ mặn cùng trái cây, mua thêm quần áo, giấy tiền vàng mã để tiễn người canh bếp về trời.

Mâm cúng ông Công, ông Táo thường gồm cá chép, thịt gà, hoa quả và vàng mã. Sau khi cúng, nhiều gia đình thả cá chép xuống sông hoặc hồ gần nhà, như một cách tiễn đưa trọn ý. Một số gia đình lại chọn cách mua cá sống để phóng sinh thay cho thả cá chép. Nhà nào ở chung cư, xa sông hồ thì có thể cúng cá chép bằng đồ chơi bằng giấy, việc cốt ở tấm lòng chứ không bắt buộc hình thức nào.

Sau ngày 23 là đến phần bàn thờ. Bao sái bàn thờ là việc vệ sinh toàn bộ bàn thờ, được coi là công việc quan trọng khi năm sắp kết thúc. Trước khi dâng lễ cúng, các gia đình cần lau chùi, sắp xếp bàn thờ sạch sẽ tươm tất: rửa chén đĩa thờ, thay nước, tán trầu, đổi chân nến và hoành phi cũ. Việc này nên làm trong mấy ngày sau 23 tháng Chạp, trước ngày cúng tất niên.2

Song song với dọn bàn thờ là tảo mộ. Giáp Tết, con cháu về quê ra nghĩa trang, dọn dẹp mộ phần tổ tiên, mang hương hoa lễ vật đến viếng và thắp hương, mời ông bà về ăn Tết với con cháu. Người Việt giữ tục viếng mộ tổ tiên dịp Tết để bày tỏ lòng thành kính và biết ơn với người đã khuất; việc này thể hiện đạo hiếu và truyền thống uống nước nhớ nguồn của cả dân tộc. Ai xa quê, về không kịp, nhiều gia đình chọn thắp hương hướng về quê tại nhà, hoặc dời tảo mộ lên đầu tuần trước khi đường xá đông.

Cũng trong tuần cuối năm, cả nhà tổng dọn dẹp nhà cửa. Lau dọn nhà cuối năm nhằm loại bỏ điều không tốt của năm cũ để đón may mắn, tài lộc năm mới. Ngoài quét tước, người ta còn giặt giũ rèm cửa, gấp quần áo, cất gọn, hoàn tất các công việc dở dang để bước sang năm mới với tâm thế nhẹ nhõm.

Khoảng ngày 27, 28, 29 Tết, các gia đình quây quần gói bánh chưng, bánh tét. Bánh chưng làm từ gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, gói lá dong; bánh tét gói lá chuối; cả hai đều phải luộc nhiều giờ mới chín tới. Miền Bắc làm bánh chưng hình vuông, miền Nam làm bánh tét hình trụ, nguyên liệu chính đều là lúa gạo. Nhiều vùng vẫn duy trì thói quen cùng hàng xóm, họ hàng tập trung gói bánh, luộc bánh và trò chuyện, để đêm luộc bánh trở thành một dịp đoàn viên riêng. Bánh chưng, bánh tét là hai loại bánh truyền thống không thể thiếu dâng bàn thờ tổ tiên và làm quà dịp Tết; dân gian giải thích chúng mang ý nghĩa hòa hợp âm dương, cầu mưa thuận gió hòa, vạn vật sinh sôi. Truyền thuyết về hai loại bánh này cũng kể tấm lòng con cháu dâng lên tổ tiên. Ai lần đầu gói bánh nên chuẩn bị lá, nếp, đậu trước một hai ngày và nhờ người quen tay chỉ giúp cách gói; bánh hở một góc thì dù luộc bao nhiêu giờ cũng chín không đều.

Đón giao thừa, dựng cây nêu và chọn người xông đất

Ngày 29 hoặc 30 tháng Chạp, gia đình làm lễ Tất niên, tức lễ cúng cuối năm mời tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Lễ này thường thực hiện vào ngày 30 Tết; nhà có tháng thiếu thì dời lên ngày 29.2 Trên bàn thờ tổ tiên, gia chủ dâng hương hoa, trái cây, bánh trái cùng mâm cỗ mặn bài trí trang nghiêm, vừa để mời ông bà, vừa để trả lễ thần linh vì thành quả năm qua: mâm cơm cúng đêm giao thừa gửi lòng tới Thần Nông, Thổ địa, ông Công, ông Táo. Sau lễ, nhiều gia đình cho con cháu thắp hương trước bàn thờ rồi cả nhà quây quần ăn cơm tất niên.

Đúng thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới, khoảng giữa giờ Hợi và giờ Tý, gia chủ dâng lễ cúng giao thừa cầu xin ông bà phù hộ năm mới bình an, may mắn; mâm lễ gồm món mặn bài trí cẩn thận. Ở nhiều nơi, cả nhà đứng dậy nghe chuông đồng hồ điểm 12, nhìn lên trời xem pháo hoa, một hoạt động đặc sắc của đêm giao thừa ở các thành phố. Ai ở chung cư nên thắp nến nhỏ trên bàn thờ thay cho đốt nhiều hương trong phòng kín, và giữ trẻ tránh xa nơi có lửa.

Xưa kia, trước giờ giao thừa, nhiều gia đình trồng cây nêu trước cửa. Cây nêu là cây tre cao khoảng 5 đến 6 mét, treo giấy vàng bạc, bùa trừ tà, bầu rượu và đèn lồng. Dân gian cho rằng cây nêu đánh dấu cho tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết, đồng thời xua đuổi tà khí. Nhà phố và chung cư ngày nay hiếm chỗ trồng cây cao, nên nhiều nơi thay bằng cành tre nhỏ cắm trước cửa hoặc treo ở ban công, giữ ý nghĩa mà vẫn gọn gàng.

Đổi lại, tục xông đất thì vẫn giữ nguyên trong nhiều gia đình thành thị. Xông đất, còn gọi là xông nhà hay đạp đất, là tục chọn người đầu tiên bước vào nhà sau giao thừa, tin rằng người đó ảnh hưởng may mắn cả năm. Người xông đất phải hợp tuổi với gia chủ để mang lại may mắn, thuận lợi, sức khỏe. Nhiều gia chủ tìm người hợp tuổi, hợp mệnh trước Tết, hẹn giờ đến đúng sau thời khắc chuyển giao. Có điều, nếu người hợp tuổi bận việc, gia chủ vẫn có thể tự xông đất cho nhà mình; niềm vui và sự bình an của cả nhà trong đêm đầu năm mới là điều quan trọng hơn mọi lệ định.

Bàn thờ gỗ nhỏ trong phòng tối với đĩa trái cây, lọ nhang đang bốc khói và một ngọn nến sáng ấm
Ảnh minh họa

Phong tục và món ăn đặc trưng trong ngày Tết

Cái Tết của mỗi miền Việt Nam nhìn vào mâm trái cây và chậu hoa là biết ngay. Người Hà Nội chọn chùm đào hồng thắm, người Sài Gòn tìm cành mai vàng rực, còn giữa đất Huế, hoa đào vẫn là loài hoa Tết đặc trưng.

Bên cạnh hoa trái, Tết còn hiện diện trong nếp chúc tụng đầu năm và trong mâm cơm nhà nhà nấu giống nhau đến lạ: món nào cũng mang một lời chúc gói bên trong.

Mâm ngũ quả và hoa Tết: mỗi miền một kiểu bày, một loại hoa chuộng

Mâm ngũ quả là mâm các loại trái cây bày trên bàn thờ tổ tiên dịp Tết, mỗi nơi bày một kiểu. Đặt mâm này lên bàn thờ, con cháu bày tỏ lòng biết ơn, tôn kính với bề trên, đồng thời cầu may mắn, tài lộc cho cả nhà trong năm mới. Gọi là ngũ quả nhưng con số năm không phải phép cứng, quan trọng là chọn những loại trái có tên gọi đẹp, màu sắc đẹp mắt theo cách nghĩ của người bày. Ngoài các loại quen thuộc như chuối, dưa, quýt, dứa, tiêu, đu đủ, xoài, mỗi nhà còn tùy điều kiện mà thêm bớt cho mâm được đầy đặn.

Ở miền Bắc, mâm ngũ quả thường gồm bưởi, chuối, hồng, quýt và ớt; một cách bày khác theo quan niệm ngũ hành lại gồm chuối xanh, bưởi, Phật thủ, sung và hồng, chuối để xanh cho đủ màu. Miền Trung bày đơn giản hơn, theo nguyên tắc mùa nào thức nấy, thường là chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ. Còn miền Nam chọn mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài, năm thứ tên đọc lên nghe gần với câu cầu mong đủ đầy, sung túc. Người trẻ lần đầu tự bày mâm thường hỏi người lớn trong nhà trước, vì mâm ấy nhà nào giữ nếp nhà ấy, không ai bắt buộc chung một kiểu.

Chuyện chọn trái cây dịp Tết mỗi nơi có điều tránh riêng. Người miền Nam ít dùng chuối, vì tên quả đọc lên giống từ chỉ sự khó khăn, e rằng làm ăn không phất được. Quýt cũng ít được trưng ngày đầu năm, vì tên quả gợi đến câu quýt làm cam chịu. Lê và táo càng ít người chọn, tên hai quả này nghe gần với những tiếng không may trong nhà. Dưa hấu thì ngược lại, trái tròn, vỏ xanh ruột đỏ được nhiều nhà đặt lên bàn thờ, coi như biểu tượng của sự tròn đầy, viên mãn đầu năm. Những điều tránh ấy không ai bắt buộc, nhưng biết trước thì khi đi mua trái cây bày mâm, người trẻ khỏi lúng túng trước lời nhắc của người lớn.

Về hoa, ranh giới ba miền càng rõ. Người miền Bắc thường trưng quất hoặc hoa đào; theo quan niệm truyền thống, cây đào giúp trừ ma, còn sắc đỏ của hoa như một lời chúc phúc đầu năm. Nhiều nhà trưng cành đào bên cạnh chậu quất quả vàng, hai thứ hợp nhau trong cái Tết đất Bắc. Miền Trung cùng chơi hoa đào với miền Bắc, riêng miền Nam chuộng hoa mai, thứ hoa nở đúng lúc nắng ấm cuối đông phương Nam.

Chúc Tết, mừng tuổi, lì xì và đi lễ chùa đầu năm

Trước hết là nếp thăm hỏi: suốt những ngày Tết, người Việt đi gặp người thân, bạn bè, chúc nhau sức khỏe, bình an, thành công và hạnh phúc. Người xưa tin lời chúc đầu năm có ảnh hưởng đến cả năm, nên trước hết mọi nhà dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, tự làm điều tốt để xua vận xui, rồi mới mang lời lành đi tặng người khác. Cái Tết vì thế mở đầu bằng chính việc lành, không phải bằng lời nói suông.

Trình tự đi chúc Tết theo ngày được dân gian ghi vào một câu quen thuộc: mồng một Tết mẹ, mồng hai Tết vợ, mồng ba Tết thầy. Nghĩa là mùng một dành cho họ mẹ, họ hàng bên ngoại, mùng hai về nhà vợ, mùng ba tới thầy cô, những người có công dạy dỗ. Câu ấy không phải quy luật bắt buộc, nhưng giúp người trẻ lần đầu tự lo chuyện chúc Tết biết sắp xếp thứ tự cho hợp lễ nghĩa, khỏi bỏ sót nhà nào quan trọng. Ai ở xa quê không về kịp các ngày ấy thì gọi điện, nhắn tin chúc trước cũng được coi là trọn nghĩa.

Kế đến là tục mừng tuổi, hay gọi khác là lì xì, tức tặng tiền trong bao đỏ kèm lời cầu phúc cho con cháu và người nhỏ tuổi hơn. Ngày mùng một, con cháu chúc Tết, mừng tuổi ông bà cha mẹ; người lớn lại lì xì cho trẻ em với mong ước các cháu may mắn, học giỏi. Bao đỏ được trao cùng lời chúc đọc to, trẻ nhỏ nhận tiền mà người lớn vẫn dặn đọc lời cảm ơn trước, nếp ấy dạy con trẻ phép lịch sự từ chính niềm vui đầu năm. Lời chúc qua lại hai chiều ấy làm cho tục mừng tuổi thành chuyện cho và nhận, không ai chỉ nhận mà không cho.

Không những thế, dịp đầu năm còn là lúc nhiều người đến đền chùa lễ Phật, một hoạt động tâm linh phổ biến để cầu bình an, may mắn, sức khỏe và tài lộc. Cùng với việc đi chùa, người Việt còn giữ nếp tặng quà, giúp đỡ người nghèo, chia sẻ niềm vui với những người xung quanh, coi đó là cách mở đầu năm bằng việc lành.

Mâm cơm ngày Tết: thịt kho tàu, xôi gấc, lạp xưởng, chả giò

Bánh chưng vẫn là món ăn truyền thống của ngày Tết, nhưng bên cạnh đó, mỗi miền còn góp vào mâm cỗ những món riêng của mình. Thịt kho tàu với trứng kho đến màu nâu sẫm mang ý nghĩa no đủ, sung túc và bền vững, là món quen thuộc trong mâm cỗ Tết của nhiều gia đình, nấu một nồi lớn ăn dần suốt mấy ngày đầu năm.

Xôi gấc làm từ gạo nếp, ruột gấc, đường và một chút muối, màu đỏ tươi của gấc tượng trưng cho may mắn và hạnh phúc, nên thường được bày trong mâm cỗ ngày Tết. Lạp xưởng là món đặc trưng miền Nam, làm từ thịt lợn, rượu, đường, tiêu, thường ăn kèm dưa chua cho đỡ ngán. Chả giò với nhân thịt lợn, tôm, nấm hương, mộc nhĩ, chấm nước tương hay tương ớt, chiên nóng vừa ra khỏi chảo, là món cả trẻ nhỏ lẫn người lớn đều chờ đợi. Mỗi món trong mâm ấy đều gói một lời chúc: ăn vào đầu năm cho năm được như tên món.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com