Chúc Mừng Năm Mới

Giải trí

Sự tích hoa dạ lan hương và cây hồng dại đổi sắc lấy hương đêm

Trong sách Tiếng Việt lớp 2, truyện sự tích hoa dạ lan hương được chép theo Trần Hoài Dương: ông lão làm vườn cứu sống cây hồng dại bị vứt bên đường, và cái kết khiến bao thế hệ học sinh nhớ mãi.

11 phút đọc

Nhiều người Việt lớn lên với trang sách kể về ông lão ngả lưng trên chõng tre đầu hè, phe phẩy quạt nan, ngửi thấy một mùi hương ngọt ngào bay lên trong đêm tối mà chẳng nhìn thấy bông hoa nào. Hình ảnh ấy nằm trong truyện cổ tích được chép vào sách Tiếng Việt lớp 2 theo Trần Hoài Dương. Từ đó, sự tích hoa dạ lan hương theo chân học sinh qua từng lớp.

Sự tích hoa dạ lan hương thuộc nhóm truyện giải thích nguồn gốc loài hoa, kiểu truyện người Việt xưa hay dùng để lý giải vì sao một loài hoa lại có dáng vẻ và mùi hương như vậy. Cái hay của nó là ở chỗ loài hoa nhỏ bé, ít được chú ý, bỗng trở thành nhân vật chính với một lòng biết ơn rất lớn.

Điều lạ là cùng một cái tên dạ lan hương, dân gian lại lưu giữ hai mạch truyện khác hẳn nhau.

Ông lão và cây hồng dại

Truyện mở đầu vào thời trời đất mới hình thành, cỏ cây hoa lá mới bắt đầu xuất hiện, có một ông lão làm vườn chăm chỉ, yêu hoa. Một hôm trên đường đi, ông thấy cây hồng dại gần giống cây hoa hồng bị ai đó nhổ bật gốc, héo rũ vứt bên đường. Ông tiếc cây, mang về ươm trong bóng râm, tưới bón chăm sóc từng ngày.

Cây hồi sức nhanh, từ các nách lá nhú chồi non, chừng mươi hôm sau thành cây xanh tốt và cho những nụ hoa đầu tiên với bông đẹp lạ lùng.

Nhưng bông hoa nở để làm gì, khi chủ nhân của nó chẳng bao giờ kịp nhìn.

Ông lão làm vườn dậy từ sáng sớm, tất bật với những luống hoa đến tối muộn. Chỉ về khuya, ngả lưng trên chõng tre ở đầu hè, phe phẩy quạt nan, ông mới được nghỉ ngơi. Đêm lại tối đen dày đặc, ông không thể nhận ra vẻ đẹp của hoa. Loài hồng dại này lại có đặc điểm bông rất đẹp nhưng hương thơm chỉ dìu dịu thoảng qua.

Người làm vườn thật ngoài đời cũng vậy: dậy sớm tưới hoa, trưa nắng lùa cỏ, tối về chỉ còn sức hóng gió ngoài hiên. Hoa nở đẹp ban ngày cũng chẳng ai kịp ngắm. Cây hoa thương ông lão như vậy, nên nguyện ước biến thành loài hoa có hương thơm ngào ngạt vào đêm, để an ủi, vỗ về ông, đưa ông vào giấc ngủ bình yên thay vì để ông thưởng thức màu sắc.

Niềm mong ước ấy làm bà Chúa hoa cảm động. Bà cho cây hoa được toại nguyện, nhưng với cái giá phải trả: đánh đổi vẻ đẹp lộng lẫy để trở thành cây hoa nhỏ bé, tầm thường, ít được chú ý. Từ đó xuất hiện loài hoa mới, tên Dạ Lan Hương, nghĩa là loài hoa thơm nồng nàn mỗi đêm. Ở một dị bản gần giống, hoa xin Trời đổi vẻ đẹp lấy hương thơm, vì ông bận rộn ban ngày, và Trời cảm động mà chấp nhận.

Chi tiết đánh đổi ấy là trái tim của câu chuyện. Loài hoa không xin thêm gì cho mình, chỉ xin một thứ để làm vui người đã cứu mình, và chấp nhận mất đi thứ mà mọi loài hoa đều coi là danh giá nhất. Người xưa kể chuyện này, có lẽ vì thấy trong đó bóng dáng của bao mối quan hệ đời thường, nơi người cho đi chẳng cần nói thành lời.

Dị bản cô bé lười nhác

Ngoài bản ông lão làm vườn, sự tích hoa dạ lan hương còn một dị bản hoàn toàn khác, ít được kể lại hơn. Chuyện bắt đầu từ một bà lão nghèo cô đơn, sống bằng nghề trồng rau ở ven sông. Một hôm bà nhặt được một bọc có bé gái xinh xắn, bèn nhận làm con nuôi. Từ đó, món ngon, áo đẹp bà đều nhường cho con, còn mình ăn khoai sắn, mặc đồ cũ.

Cô bé lớn lên sinh ra kêu căng, lười nhác, không chịu giúp mẹ việc nhà. Ong Vàng bay đến nhắc cô đi tưới rau, quét nhà, nấu cơm. Trong bản truyện này, Ong Vàng đóng vai sứ giả nhắc nhở, cứ bay đến từng việc mà cô bé vẫn lơ đi.

Rồi một hôm bà mẹ già không về được. Ba ngày cô bé vẫn không chịu làm việc nhà, và khi Ong Vàng bay về báo tin, mẹ đã kiệt sức mà mất. Cô bé khi ấy mới hiểu sắc đẹp mình có được là nhờ tình thương của mẹ.

Người con hối hận muộn màng, đứng khóc trong vườn rồi biến mất. Chỗ cô khóc mọc lên một bụi cây nở chùm hoa trắng xanh, chỉ tỏa hương thơm ngọt ngào khi màn đêm buông xuống. Dân làng đặt tên là hoa Dạ hương.

Hai bản truyện đi về một điểm gặp nhau: loài hoa chỉ tỏa hương về đêm. Bản đầu giải thích bằng tình thương của cây hoa dành cho ông lão, bản sau giải thích bằng nỗi ân hận của đứa con dành cho mẹ. Mùi hương chỉ đến khi màn đêm buông xuống, nên người xưa gắn nó với những tình cảm không kịp nói ra lúc còn có thể. Có lẽ vì thế mà câu chuyện đọng lại lâu hơn bất kỳ bài giảng nào.

Một bà lão tóc bạc đang cúi xuống nhổ cỏ trên luống rau xanh bên bờ sông, một bé gái ngồi chơi phía sau gần nhà mái tranh
Ảnh minh họa

Ý nghĩa sự tích hoa dạ lan hương

Truyện này trước hết được kể để dạy trẻ biết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Ở bản ông lão, cây hoa trả ơn bằng cách hy sinh thứ quý giá nhất của mình là sắc đẹp, để đổi lấy hương thơm dành cho chủ nhân vào đêm. Ở bản cô bé, loài hoa hóa thân từ nỗi ân hận muộn màng của đứa con chậm hiểu.

Vì thế, dạ lan hương trong truyện trở thành biểu tượng của tình yêu thầm lặng, sự hy sinh và lòng biết ơn dành cho người từng chăm sóc mình, gửi gắm thông điệp về lòng vị tha và tình người.

Ngoài trang truyện, loài hoa còn mang nhiều tầng ý nghĩa trong đời sống. Theo quan niệm dân gian, dạ lan hương mang điềm tốt, thu hút tài lộc, may mắn, thịnh vượng, nên nhiều người dùng trang trí ngày Tết để cầu năm mới an lành, xua đuổi vận xui.

Ở phương Tây, ý nghĩa lại theo mùa và theo dịp. Hoa nở vào mùa xuân nên tượng trưng cho sự hồi sinh, khởi đầu, và cũng được dùng trong tang lễ, dịp tưởng niệm để gửi thông điệp nhớ nhung, yêu thương. Văn hóa Pháp gắn cho loài hoa một hàm ý tình yêu phức tạp, với mật mã được ghi lại là “Anh yêu em nhưng sẽ đồng thời hủy diệt em”. Riêng bông hoa màu hồng phấn được xem là biểu tượng cho tình yêu cao cả và chân thành.

Truyện cổ tích kiểu này dễ đưa vào lớp học, vì câu hỏi khơi gợi chỉ cần đơn giản: các em đã bao giờ cảm ơn người nấu cơm mỗi sáng cho mình chưa. Một loài hoa, nhiều cách hiểu, nhưng tất cả đều quay về chuyện tình người, và đó là lý do sự tích hoa dạ lan hương vẫn được kể đi kể lại qua nhiều thế hệ.

Hoa thật ngoài truyện

Loài hoa trong truyện có thật, tên khoa học Hyacinthus orientalis, còn gọi là hoa tiên ông, xuất xứ từ vùng Địa Trung Hải, phổ biến ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ. Một số mô tả chi tiết hơn ghi nguồn gốc loài ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Lebanon và miền bắc Israel, thuộc họ Asparagaceae.

Cây mọc từ củ, thân thảo, lá mềm mọng nước cong ở giữa, nhọn hai đầu, mỗi củ mọc từ 7 đến 10 lá. Theo mô tả khác, thân hoa cao 20-35cm, lá mọc từ gốc hình dải dài 15-35cm, rộng 1-3cm. Cành hoa nở thành chùm vươn thẳng, hoa lâu tàn và hương nồng nàn. Về chiều cao cành hoa, các nguồn ghi chênh nhau, từ 15-20cm, 15-25cm, 15-30cm cho tới 20-35cm, có thể do khác giống và cách đo, nên chưa nên khẳng định một con số chuẩn.

Tên hoa tiên ông xuất phát từ bộ rễ dài màu trắng trông như chòm râu của ông tiên, nhìn rõ nhất khi trồng bán thủy canh trong chậu thủy tinh. Vào thế kỷ XVII tại Hà Lan, loài hoa này từng được mệnh danh là “vàng xanh” vì giá trị kinh tế và thẩm mỹ cao.

Ở Việt Nam, dạ lan hương thường được nhập khẩu dạng củ lạnh hoặc trồng ở vùng cao như Đà Lạt, vì hoa thích khí hậu mát mẻ và ánh sáng gián tiếp. Một điều cần nhớ khi đưa hoa về nhà: toàn bộ bộ phận của dạ lan hương đều chứa chất độc, chỉ nguy hiểm khi ăn phải, còn chạm vào hay ngửi hương thì không gây hại.

Riêng về nguồn gốc loài, phương Tây có truyền thuyết riêng của mình. Thần thoại Hy Lạp kể về chàng trai đẹp Hyakinthos được thần Apollo yêu mến, và theo truyền thuyết, từ máu của chàng mọc lên loài hoa này, trở thành biểu tượng tình yêu bất tử. Đó là câu chuyện của phương Tây, tách bạch với truyện cổ tích Việt Nam về ông lão làm vườn, dù cùng nói về một loài hoa.

Trên bàn gỗ cũ cạnh cửa sổ có chậu đất nung cắm hoa tím trắng cùng vài củ hành trồi mầm xanh, nắng sáng chiếu nghiêng
Ảnh minh họa

Vì sao thơm về đêm

Đặc tính thơm về đêm của loài hoa có cơ chế sinh học rất cụ thể: hoa tỏa hương mạnh ban đêm nhằm thu hút côn trùng thụ phấn hoạt động về đêm, như bướm đêm. Truyền thuyết đã nhân hóa đặc tính ấy thành lòng biết ơn của cây hoa nhỏ bé, không đẹp về sắc bù lại bằng hương, để người thương hoa vẫn nhận ra nó trong bóng tối.

Hương thơm của dạ lan hương chứa hơn 100 hợp chất hóa học khác nhau, trong đó có linalool, geraniol và phenylethyl alcohol, tạo nên mùi ngọt ngào, nồng nàn đặc trưng. Hoa nở ban ngày nhưng mùi hương thay đổi theo thời gian trong ngày: buổi sáng nhẹ nhàng, tươi mới, buổi tối nồng nàn, ngọt ngào hơn, nên mới có tên dạ lan hương.

Chi tiết trong truyện vì thế khớp lạ lùng với đặc tính thật của loài hoa. Chưa có phòng thí nghiệm, người xưa vẫn quan sát thấy mùi hương đậm nhất rơi đúng vào lúc ông lão nằm trên chõng tre, và biến quan sát ấy thành một câu chuyện về lòng biết ơn. Mỗi màu hoa lại có mùi riêng: màu xanh thơm nhẹ nhàng tươi mới, màu hồng thơm ngọt ngào nữ tính, màu tím thơm nồng nàn bí ẩn, màu trắng thơm thanh tao tinh khiết.

Tên gọi dễ nhầm

Cùng một cái tên dạ lan hương lại bị gắn cho nhiều loài hoa khác nhau, và đây là chỗ dễ sập bẫy nhất khi tìm hiểu hay mua hoa. Một số nơi nhầm dạ lan hương với Polianthes tuberosa, tức huệ tây, huệ ta, cây cao 60-100cm, hoa trắng nở rộ mùa hè và thu, khác hẳn Hyacinthus orientalis.

Còn dạ lan, tên khoa học Cestrum nocturnum, thuộc họ Cà, cũng là một loài hoàn toàn khác với họ Lan dạ hương. Không khó gặp người mua củ hoa online, nhận về củ huệ tây chỉ vì người bán gắn nhãn dạ lan hương; nếu biết trước ba loài này khác nhau, chuyện nhầm lẫn ấy khó xảy ra. Khi mua hay đọc tài liệu, nên nhìn vào tên khoa học in trên nhãn để biết chính xác mình đang cầm loài nào, vì cái tên dân gian thì ai cũng có thể đặt theo ý mình.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com