Chúc Mừng Năm Mới

Học & lớn lên

Quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật qua ví dụ nước sôi ở 100°C

Quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật là ba quy luật vạch ra nguồn gốc, cách thức và khuynh hướng của mọi sự vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Năm 1877, trong Chống Đuy rinh, Ăng ghen dẫn lời Mác viết trong Tư bản rằng những thay đổi thuần túy về lượng, vượt qua một điểm nhất định, sẽ chuyển thành những khác biệt về chất, rồi minh họa bằng chính thứ chất lỏng quen thuộc nhất: nước sôi ở 100°C và đóng băng ở 0°C.

13 phút đọc

Nước đun trên bếp vẫn là nước lỏng, cho tới khi nhiệt độ chạm 100°C thì nó sôi thành hơi; để ngoài trời lạnh, tới 0°C nó đóng băng thành đá. Ăng ghen lấy ví dụ đời thường này trong Chống Đuy rinh năm 1877 để nói về một quy luật mà Mác từng nêu trong Tư bản: những thay đổi thuần túy về lượng, vượt qua một điểm nhất định, sẽ chuyển thành những khác biệt về chất. Ông ghi nhận quy luật này do Hêghen phát hiện trong Lôgíc học, rồi dùng chính nó để minh họa.

Đứng sau ví dụ ấy là một câu hỏi xưa nay vẫn khiến người ta trăn trở: vì sao cùng một sự vật, tích lũy đủ về lượng lại sinh ra cái mới về chất? Câu hỏi này dẫn tới trọn bộ quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, hệ thống ba quy luật mà Karl Marx và Friedrich Engels xây dựng từ thập niên 1840.

Cách hai ông xây dựng hệ thống ấy cũng là một câu chuyện đáng nhớ. Marx kế thừa tư tưởng phương pháp biện chứng của Georg Wilhelm Friedrich Hegel và lý luận chủ nghĩa duy vật của Ludwig Andreas von Feuerbach để phát triển phương pháp luận duy vật biện chứng.1 Ông nhận xét phép biện chứng của Hegel là “phép biện chứng lộn đầu xuống đất”, vì Hegel đặt nó trên quan điểm duy tâm, coi quy luật biện chứng là quy luật của tinh thần. Marx và Engels làm đúng điều tên gọi nói ra: đặt phép biện chứng trên lập trường duy vật, coi các quy luật ấy chi phối cả thế giới khách quan lẫn tư duy con người.

Quy luật là gì

Trước khi bàn đến ba quy luật, cần hiểu chữ quy luật trong triết học Mác - Lênin.3 Theo cách nhìn này, quy luật là kiểu mối liên hệ mang tính bản chất, tất nhiên, lặp lại, tồn tại khách quan giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

Xếp theo mức độ phổ biến, quy luật chia thành ba loại.

Loại riêng chỉ tác động trong phạm vi nhất định của những sự vật cùng loại, ví dụ quy luật vận động cơ giới, hóa học, sinh học. Loại chung tác động trong nhiều loại sự vật, như quy luật bảo toàn khối lượng hay bảo toàn năng lượng. Loại phổ biến chi phối tất cả lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.5 Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật thuộc nhóm phổ biến nhất, vì chúng ràng buộc mọi sự vận động, phát triển, từ hạt nguyên tử đến nền kinh tế và cả cách con người suy nghĩ. Ngoài mức độ phổ biến, quy luật còn được xếp theo lĩnh vực tác động thành quy luật tự nhiên, quy luật xã hội và quy luật tư duy.

Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật có đúng ba quy luật nền tảng: quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, thường gọi tắt là quy luật mâu thuẫn; và quy luật phủ định của phủ định.

Theo Ăng ghen định nghĩa, phép biện chứng nghiên cứu những quy luật phổ biến chi phối sự vận động, phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. Trước khi đến với hình thức duy vật, phép biện chứng đã trải qua ba hình thức: sơ khai cổ đại, duy tâm cổ điển Đức và duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ba quy luật không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau, mỗi quy luật giữ một vai trò riêng khi giải thích sự phát triển.

Cụ thể: mâu thuẫn chỉ ra nguồn gốc của sự phát triển; lượng - chất chỉ ra cách thức; phủ định của phủ định chỉ ra khuynh hướng.4 Nói cách khác, mâu thuẫn trả lời câu hỏi vì sao sự vật vận động, lượng - chất trả lời nó vận động bằng con đường nào, còn phủ định của phủ định trả lời nó đi về đâu.

Cũng cần biết ba quy luật nằm ở đâu trong toàn bộ hệ thống. Nội dung phép biện chứng duy vật không dừng ở đó, mà còn gồm hai nguyên lý cơ bản là mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, cùng sáu cặp phạm trù không cơ bản, mỗi cặp giúp soi một khía cạnh của sự vật: cái riêng với cái chung, tất nhiên với ngẫu nhiên, nguyên nhân với kết quả, bản chất với hiện tượng, khả năng với hiện thực, nội dung với hình thức. Ba quy luật là xương sống, hai nguyên lý là cách nhìn xuất phát, còn các cặp phạm trù là những khái niệm giúp phân tích cụ thể từng mối liên hệ.

Một thanh niên ngồi đọc sách ở góc bàn gỗ, cạnh chồng vở, sách dày, điện thoại úp và tách trà, đèn bàn sáng
Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo

Quy luật mâu thuẫn

Trong hệ thống ấy, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập được coi là quan trọng nhất, hạt nhân của cả phép biện chứng, vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển.5

Mặt đối lập là những mặt có thuộc tính, khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy.5 Chúng nằm khắp nơi quanh ta: điện tử đối chọi hạt nhân trong nguyên tử, đồng hóa đi liền dị hóa trong sinh vật, còn thị trường thì có cung với cầu, hàng với tiền.

Mâu thuẫn biện chứng là kiểu quan hệ trong đó các mặt trái ngược vừa gắn bó, vừa giằng co, vừa chuyển hóa lẫn nhau bên trong mỗi sự vật, hiện tượng. Cần phân biệt rõ: mâu thuẫn biện chứng tồn tại khách quan, phổ biến, là nguồn gốc phát triển của nhận thức, còn mâu thuẫn trong lôgic hình thức chỉ là sai lầm trong tư duy. Hai người tranh luận mà gộp hai ý trái nhau vào một phán đoán là mắc lỗi lôgic; cung và cầu giằng co trên thị trường lại là mâu thuẫn biện chứng, không ai nhầm lẫn được.

Thống nhất giữa hai mặt ấy nghĩa là chúng nương tựa vào nhau, không thể tách rời; mặt này lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề.5 Không có cầu thì cung vô nghĩa, không có dị hóa thì đồng hóa không tồn tại. Nhưng trong một mâu thuẫn, sự thống nhất ấy chỉ là tương đối, tạm thời; còn sự đấu tranh của hai bên là tuyệt đối.

Đấu tranh ở đây là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định lẫn nhau, với hình thức hết sức phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối liên hệ và điều kiện cụ thể.5

Mâu thuẫn vận động theo một quá trình có nếp: lúc mới xuất hiện, nó chỉ là sự khác biệt; rồi khác biệt phát triển thành hai mặt đối lập; khi hai mặt xung đột và điều kiện chín muồi, chúng chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết, sự vật mới ra đời. Từ đó rút ra ý nghĩa phương pháp luận: trong nhận thức và thực tiễn cần phát hiện mâu thuẫn, tôn trọng, phân tích mâu thuẫn để nắm khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật; vì mâu thuẫn đa dạng nên cần có quan điểm lịch sử - cụ thể khi giải quyết. Một ví dụ kinh điển: khi lực lượng sản xuất không còn phù hợp với quan hệ sản xuất, mâu thuẫn ấy trở thành động lực của biến đổi xã hội.

Quy luật lượng - chất

Nếu mâu thuẫn trả lời vì sao sự vật phát triển thì quy luật lượng - chất trả lời phát triển bằng cách nào. Quy luật này nói tới sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.3

Chất là tính quy định khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác.3 Lượng là tính quy định khách quan về số lượng yếu tố, quy mô, tốc độ, nhịp điệu vận động của sự vật. Giữa hai phạm trù ấy có độ, điểm nút và bước nhảy: độ là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm chất của sự vật thay đổi căn bản; điểm nút là thời điểm mà tại đó lượng đã đủ làm chất đổi khác; khi sự thay đổi về chất xảy ra gọi là bước nhảy.

Cơ chế của quy luật diễn ra thế này: lượng thay đổi dần trong khuôn khổ của độ, tới điểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất thông qua bước nhảy; chất mới ra đời tạo điều kiện cho lượng mới tiếp tục tích lũy. Nước đun ấm dần vẫn là nước lỏng, tới 100°C thì sôi thành hơi; học sinh học 12 năm phổ thông rồi 4 năm đại học mới thành kỹ sư, đó là bước nhảy chuyển đổi chất.

Trong Chống Đuy rinh, Ăng ghen còn dẫn ví dụ của Na-pô-lê-ông về kỵ binh để minh họa cùng một quy luật. Hai kỵ binh Mam-lúc chắc chắn thắng ba quân Pháp; khi mỗi bên có 100 người thì hai bên ngang sức; tới 300 người mỗi bên thì quân Pháp thường thắng; còn 1.000 quân Pháp luôn đánh bại 1.500 Mam-lúc. Nghĩa là lực lượng kỷ luật chỉ phát huy vượt trội khi đạt số lượng tối thiểu nhất định, còn dưới ngưỡng ấy, ưu thế cá nhân của từng kỵ binh giỏi vẫn thắng thế.

Ăng ghen mở rộng sang hóa học: trong chuỗi hợp chất cacbon như dãy parafin, mỗi thành viên mới ra đời do cộng thêm CH2 vào công thức phân tử của thành viên trước, và mỗi lần cộng thêm ấy lại tạo ra một chất khác hẳn: metan CH4 là chất khí, còn hexadecan C16H34 là chất rắn kết tinh không màu, chảy ở 21°C. Cùng kiểu đó, khi khối lượng Uranium 235 được tăng đến khối lượng tới hạn thì xảy ra vụ nổ nguyên tử trong chốc lát, một bước nhảy đột biến điển hình.3

Bước nhảy còn được phân loại: căn cứ vào quy mô có bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ; căn cứ vào nhịp độ có bước nhảy đột biến và bước nhảy dần dần. Bài học phương pháp luận từ đó rất thiết thực: phát triển phải có sự tích lũy về lượng; lượng tích lũy đủ sẽ có bước chuyển về chất; không được nôn nóng tả khuynh cũng như bảo thủ hữu khuynh, và phải biết lựa chọn bước nhảy thích hợp.

Một ly thủy tinh đựng nước đặt trên đế đen, có que đo kim loại cắm trong nước, bên cạnh là khăn gấp và một chiếc cốc sứ
Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo

Phủ định của phủ định và đường xoáy ốc của sự phát triển

Quy luật thứ ba vạch ra khuynh hướng của sự phát triển.2 Phủ định biện chứng là sự phủ định tự thân, sự phát triển tự thân của sự vật, mang hai đặc trưng cơ bản là tính khách quan và tính kế thừa.

Tính khách quan thể hiện ở chỗ nguyên nhân của sự phủ định nằm ngay trong bản thân sự vật, tức ở việc giải quyết mâu thuẫn bên trong, chứ không phụ thuộc vào ý muốn, ý chí con người; con người chỉ có thể tác động làm quá trình phủ định diễn ra nhanh hay chậm. Đây là điểm khác biệt với quan điểm siêu hình, vốn coi phủ định là diệt vong hoàn toàn cái cũ và tìm nguyên nhân ở lực lượng siêu nhiên bên ngoài.

Tính kế thừa thể hiện rõ hơn cả: cái mới chỉ có thể ra đời trên nền tảng cái cũ, gạt bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời và giữ lại, cải tạo những mặt tích cực còn thích hợp; do đó phủ định đồng thời cũng là khẳng định. Hạt lúa nảy mầm thành cây, cây lại sinh hạt: hạt mới phủ định hạt cũ nhưng ở trình độ khác, mang theo những gì cây đã tích lũy.

Ý tưởng về tính chu kỳ của sự phát triển đã xuất hiện từ rất sớm. Pitago cho rằng sự phát triển của xã hội trải qua chu kỳ 78 vạn năm, một cách mà con người cổ đại từng hình dung tính lặp lại trong lịch sử, mà quy luật phủ định của phủ định sau này khái quát hóa trên cơ sở khoa học.

Sau khi sự phủ định diễn ra hai lần thì phủ định của phủ định được thực hiện, sự vật hoàn thành một chu kỳ phát triển.2 Sự phát triển theo đường xoáy ốc thể hiện tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên: sự vật mới ra đời lặp lại giai đoạn đầu nhưng ở trình độ cao hơn.2 Từ đó rút ra bài học: phải tôn trọng tính kế thừa có chọn lọc, chống kế thừa nguyên xi, máy móc cũng như phủ định sạch trơn, chủ nghĩa hư vô với quá khứ; cần kiên trì đổi mới, tránh bi quan trước khó khăn của sự phát triển.

Mang quy luật về đời sống

Ba quy luật nghe trừu tượng nhưng đều soi được vào việc học và việc sống hằng ngày, nhất là với người tự học trên chuyên mục Học & lớn lên. Thử hình dung một người học ngoại ngữ, mỗi ngày tích lũy vài từ, nhiều tháng không thấy tiến bộ; theo quy luật lượng - chất, đó là lúc lượng đang tích lũy trong khuôn khổ của độ, và khi đủ điểm nút, khả năng giao tiếp sẽ có bước chuyển về chất.

Hợp lại, ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật cho một cách nhìn rõ ràng: gặp khó khăn, cách làm là tìm mâu thuẫn bên trong để biết vì sao việc đi chậm; muốn đi nhanh hơn, kiên trì tích lũy đủ lượng quan trọng hơn nôn nóng đòi bước nhảy; khi cái mới thay cái cũ, giữ lại điều còn hữu ích của quá khứ chính là cách tránh phủ định sạch trơn. Trên đường xoáy ốc ấy, vị trí của mỗi người được đo bằng lượng đã tích lũy và mâu thuẫn đang cần giải quyết.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com