Học & lớn lên
Vật chất và ý thức: hai bài học phương pháp luận cần nhớ
Quan hệ giữa vật chất và ý thức cho ta hai bài học phương pháp luận: nhận thức và hành động phải xuất phát từ thực tế khách quan, đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức. Bài viết giải thích vì sao có hai bài học ấy và chỉ cách áp vào học tập, công việc, đời sống hằng ngày.
Vật chất và ý thức là gì, vì sao cặp phạm trù này đứng đầu triết học
Bài làm thi cuối kỳ về đề tài này thường mất điểm ở chỗ viết hai ý nghĩa rồi dừng, không giải thích vì sao có hai ý nghĩa ấy. Cái thiếu nằm ngay ở phần nền: định nghĩa vật chất của Lênin, nguồn gốc của ý thức và luận điểm của Ăng ghen về vấn đề cơ bản của triết học. Ba nội dung dưới đây chính là ba viên gạch đó.
Định nghĩa vật chất theo Lênin: thực tại khách quan tồn tại độc lập với cảm giác
Phạm trù là khái niệm khái quát nhất của triết học dùng để chỉ những mặt chung, bản chất của sự vật, hiện tượng. Vật chất là một phạm trù như thế. Định nghĩa kinh điển về nó do Lênin đưa ra trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, và sinh viên ngành nào học triết học cũng gặp. Theo Lênin, vật chất là phạm trù triết học chỉ thực tại khách quan.3 Thực tại ấy hiện lên trong cảm giác của con người, được cảm giác chép lại, chụp lại, phản ánh lại. Nhưng nó tồn tại chẳng cần biết đến cảm giác.
Thực tại khách quan là tất cả những gì tồn tại bên ngoài và không phụ thuộc vào ý thức, cảm giác của con người. Bàn đang đặt trong phòng, cơn gió ngoài cửa sổ, trái đất quay quanh mặt trời, tất cả đều tồn tại trước khi ai đó nhìn thấy hay nghĩ về chúng. Những quan hệ kinh tế vô hình như giá cả thị trường cũng vậy. Con người có thể nhận thức được thực tại ấy qua cảm giác, nhưng cảm giác chỉ phản ánh lại chứ không tạo ra nó. Cây cối ở rừng sâu không cần ai ngửi thấy mùi lá để vẫn tỏa mùi lá.
Điểm tinh tế trong định nghĩa là cách đặt vấn đề. Vật chất là khái niệm rộng nhất trong triết học, rộng hơn mọi khái niệm khoa học cụ thể về nước, về nguyên tử hay về trường điện từ. Vì thế không thể định nghĩa nó bằng cách liệt kê các dạng cụ thể. Lênin định nghĩa bằng cách đối lập vật chất với ý thức. Cái gì tồn tại khách quan, độc lập với cảm giác, là vật chất. Cái gì là hình ảnh phản ánh do bộ óc tạo ra, là ý thức.3 Một mặt đối lập duy nhất, nhưng đủ để vạch ra ranh giới của khái niệm rộng nhất.
Cách định nghĩa này cũng giải thích vì sao vật chất trong triết học không đồng nghĩa với vật thể. Bàn, đá, nước là vật thể; còn vật chất theo nghĩa phạm trù chỉ thuộc tính chung của tất cả những dạng ấy: tồn tại khách quan. Một quan hệ xã hội vô hình như quan hệ trao đổi trên chợ vẫn thuộc về thực tại khách quan, dù mắt thường không nhìn thấy. Vì thế nói “vật chất quyết định ý thức” không có nghĩa là cái bàn quyết định suy nghĩ. Nó có nghĩa là toàn bộ điều kiện tồn tại khách quan, trong đó có điều kiện vật chất của đời sống, quy định nội dung tư tưởng của con người. Nắm được điều này, người đọc sẽ hiểu vì sao ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ quan hệ hai mặt này lại đề cao việc tôn trọng thực tế như vậy.
Ý thức là gì: sản phẩm của bộ óc người, chỉ con người mới có
Ý thức là sản phẩm của dạng vật chất tổ chức nên bộ óc con người, và chỉ con người mới có ý thức theo nghĩa đầy đủ. Con chó biết đói, biết sợ, biết chạy về phía mùi thức ăn, nhưng nó không tự hỏi mình vì sao đói, cũng không dựng nên khái niệm “thức ăn” để truyền lại cho đàn. Còn con người đặt tên cho sự vật, suy luận về nguyên nhân, mơ tưởng về điều chưa có. Sự khác biệt ấy nằm ở chỗ bộ óc người là dạng vật chất có tổ chức cao nhất, chứa hàng tỷ nơ ron thần kinh có khả năng phản ánh thế giới bên ngoài.
Nói ý thức là sản phẩm của bộ óc không có nghĩa ý thức sinh ra từ trong đầu một cách biệt lập. Triết học Mác - Lênin chỉ rõ ý thức có hai nguồn gốc. Nguồn gốc tự nhiên gồm bộ não người và thế giới bên ngoài: bộ não là cơ sở vật chất để phản ánh, còn nội dung bị phản ánh chính là thế giới khách quan. Bộ óc không có gì để phản ánh thì không hình thành được tri thức, giống như máy quay đặt trong phòng không có ánh sáng thì không ghi được hình nào.
Nguồn gốc xã hội của ý thức là lao động và ngôn ngữ.3 Lao động là hoạt động vật chất tất yếu giúp con người tác động vào thế giới khách quan, và trong quá trình đó hình thành tri thức về tự nhiên, về xã hội. Người nguyên thủy khi rèn đá thành công cụ phải quan sát độ cứng của đá, hướng giã, lực tay; kinh nghiệm ấy dần dần tích tụ thành hiểu biết. Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức, được coi là lớp vỏ vật chất của tư duy. Nghĩa là tư tưởng chỉ tồn tại được khi được “mặc” vào từ ngữ, câu chữ. Không có ngôn ngữ, ý thức của mỗi người chỉ là những mảnh cảm giác rời rạc, không thể truyền cho người khác, không thể tích lũy thành nền văn minh.
Hai nguồn gốc này lý giải một chuyện đời thường. Trẻ em lớn lên trong môi trường nào thì mang ngôn ngữ và lối tư duy của môi trường ấy, vì ý thức hình thành dần qua phản ánh thế giới và qua giao tiếp, chứ không sẵn có từ bẩm sinh. Người lớn học nghề cũng vậy: tay nghề hình thành từ làm thật, từ sai thật, rồi mới được nói thành lý thuyết. Ý thức phong phú hay nghèo nàn, đúng hay sai, trước hết do sự phong phú hay nghèo nàn của đời sống thực tiễn và của môi trường phản ánh quyết định. Đây chính là mấu chốt để hiểu chiều thứ nhất của quan hệ giữa vật chất và ý thức, và cũng là chỗ mà phần ý nghĩa phương pháp luận sau này sẽ bám vào khi khuyên người học phải đi từ thực tế.
Vì sao quan hệ vật chất: ý thức là vấn đề cơ bản của triết học
Ăng ghen xác định vấn đề lớn nhất mà mọi triết học, nhất là triết học hiện đại, phải giải quyết là quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Ai cũng phải trả lời được: cái nào có trước, cái nào quyết định cái nào? Trả lời câu hỏi này khác nhau thì cả hệ thống triết học khác nhau theo. Chủ nghĩa duy vật là trường phái cho vật chất có trước và quyết định ý thức.1 Chủ nghĩa duy tâm là trường phái cho ý thức có trước và quyết định vật chất. Thuyết nhị nguyên là quan điểm cho rằng vật chất và ý thức là hai mặt tồn tại độc lập, song song với nhau.
Vì sao câu hỏi ấy lại cơ bản đến vậy? Bởi giải quyết được nó, người ta có cơ sở để giải quyết tất cả các vấn đề triết học khác. Thế giới có thể nhận thức được hay không, lịch sử do ai quyết định, con người tự do ở mức nào, mỗi câu hỏi đều rẽ theo hướng đã chọn. Chọn một đáp án cho câu hỏi đầu tiên, mọi câu hỏi sau đều rẽ theo hướng ấy. Đây cũng là lý do khi bàn về ý nghĩa phương pháp luận của quan hệ vật chất, ý thức, người ta nói đó là phần thực tiễn của vấn đề cơ bản. Xác định xong cái nào quyết định cái nào, thì phải xác định luôn con người nhận thức và hành động cần dựa vào đâu.
Tuy vậy, Lênin lưu ý một điều mà nhiều người học bỏ qua. Ranh giới đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ mang nghĩa tuyệt đối trong nhận thức luận cơ bản, nghĩa là khi xác định cái nào có trước, cái nào có sau.3 Ra khỏi ranh giới ấy, việc phân biệt hai mặt chỉ là tương đối. Nói cách khác, ngoài chuyện “ai có trước”, vật chất và ý thức không tách rời nhau trong đời sống thực: ý thức luôn gắn với bộ óc, còn hoạt động có ý thức luôn tác động trở lại thế giới vật chất.
Mối quan hệ biện chứng: vật chất quyết định ý thức, ý thức tác động trở lại
Vì sao vật chất có trước, ý thức có sau? Thế giới vật chất đã tồn tại hàng tỷ năm trước khi con người xuất hiện, và chỉ khi có bộ óc người cùng đời sống xã hội thì ý thức mới ra đời. Thứ tự ấy không ngẫu nhiên: nó cho thấy vật chất là cái gốc, ý thức là cái ngọn, nhưng cái ngọn lại không đứng yên mà quay về tác động vào cái gốc. Hiểu đúng chiều quan hệ hai chiều này, ta mới nắm được ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức.
Trước hết, cần thấy vì sao triết học duy vật khẳng định vật chất là cái thứ nhất, ý thức là cái thứ hai.
Vật chất có trước, quyết định nguồn gốc, nội dung và sự phát triển của ý thức
Khoa học cho biết thế giới vật chất ở dạng vĩ mô có lịch sử khoảng 4,5 tỷ năm, còn con người mới xuất hiện trên Trái Đất hơn 6 triệu năm. Như vậy, trước khi có bất kỳ ý niệm nào trong đầu óc con người, vật chất đã tồn tại, vận động và phát triển theo quy luật của nó. Ý thức chỉ ra đời khi giới tự nhiên tiến hóa đến giai đoạn sinh ra được con người, sinh ra được bộ óc người với cấu tạo và chức năng đủ phức tạp để phản ánh thế giới. Nói cách khác, ý thức là cái có sau, mang tính thứ hai; vật chất là cái có trước, mang tính thứ nhất.
Ngoài nguồn gốc, vật chất còn quyết định nội dung, bản chất và cả sự vận động, phát triển của ý thức. Một người sinh ra ở vùng biển sẽ có vốn từ về thuyền lưới, thủy triều mà người vùng cao chưa chắc đã gọi đúng tên. Một thế hệ lớn lên trong thời đại điện thoại thông minh cũng có cách nghĩ về khoảng cách, giao tiếp khác hẳn thế hệ chỉ viết thư tay. Ý thức không tự sinh ra nội dung, nó phản ánh hiện thực khách quan mà chủ thể tiếp xúc, và hiện thực ấy quy định cả chiều sâu lẫn hình thức biểu hiện của tư duy.
Sự vận động của ý thức còn bị quy luật sinh học, quy luật xã hội và môi trường sống chi phối. Trẻ nhỏ học nói theo nhịp phát triển của bộ óc và theo ngôn ngữ mà gia đình, cộng đồng sử dụng, không thể đòi trẻ một tuổi nói được câu ghép. Tư tưởng, tâm lý của mỗi thời đại cũng mang dấu ấn của điều kiện kinh tế, xã hội thời ấy: xã hội nông nghiệp đề cao kinh nghiệm và nề nếp, xã hội công nghiệp đề cao kỷ luật và chuẩn hóa. Muốn hiểu một tư tưởng, phải đặt nó vào hoàn cảnh vật chất đã sinh ra nó.
Người Việt đã đúc kết điều này bằng một câu ca dao hết sức đời thường: “có thực mới vực được đạo”. Bụng đói thì trí óc khó mà tập trung vào việc học, đạo đức và lý tưởng cũng cần nền tảng vật chất nuôi dưỡng. Câu ca dao không hạ thấp tinh thần, mà chỉ nói đúng trật tự: cái ăn, cái mặc, chỗ ở là điều kiện để con người suy nghĩ, tu dưỡng, vươn lên. Ai từng học bài trong lúc đói hay làm việc trong phòng thiếu chỗ ngồi đều hiểu ngay trật tự ấy là thực tế, không phải quan niệm suông.
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất theo hai hướng
Vật chất quyết định ý thức, nhưng ý thức không phải cái bóng im lặng bám theo hiện thực. Tính độc lập tương đối là tính chất khiến ý thức sau khi ra đời có một “đời sống” riêng, có thể quay lại tác động vào vật chất ở mức độ nhất định. Sự phản ánh của ý thức là phản ánh tinh thần, mang tính chủ động, sáng tạo, chứ không thụ động, máy móc như tấm gương soi. Con người ghi nhận cái đang có, rồi gọt giũa hình ảnh trong đầu, so sánh, khái quát, thậm chí tưởng tượng ra cái chưa có. Nhờ tính sáng tạo, ý thức có thể dự đoán tương lai, xây dựng lý thuyết khoa học trừu tượng với mức khái quát cao, những thứ không thấy trước mắt nhưng giúp con người định hướng hành động.
Tác động trở lại của ý thức diễn ra theo hai hướng rõ rệt. Khi ý thức phản ánh đúng hiện thực, đúng quy luật khách quan, nó giúp đối tượng vật chất phát triển.1 Ý thức tiến bộ, tư tưởng phù hợp thực tế sẽ truyền sang người hành động, biến thành kế hoạch, biện pháp, tổ chức, từ đó dọn đường cho xã hội đi lên. Trong khi đó, ý thức lạc hậu, phản ánh sai lệch hiện thực sẽ khiến hoạt động của con người đi ngược quy luật khách quan, kìm hãm vật chất phát triển. Một công ty giữ mãi cách bán hàng từ trước, trong khi khách hàng đã chuyển sang mua trực tuyến, sẽ mất khách. Không phải vì sản phẩm xấu đi, mà vì cách nghĩ không theo kịp hiện thực.
Hai hướng ấy hiện diện khắp đời sống. Bà con trồng lúa biết theo dự báo thời tiết để gieo xạ đúng vụ là ví dụ của ý thức phản ánh đúng. Nhờ vậy, họ giảm rủi ro và tăng năng suất. Ngược lại, có những vụ đầu tư đổ vỡ chỉ vì người ta tin vào tin đồn mà không kiểm tra thực tế thị trường, đó là ý thức phản ánh sai dẫn tới hành động sai. Cùng một hoàn cảnh, hai cách nghĩ khác nhau cho hai kết quả trái ngược. Điều này chứng tỏ ý thức không hề vô dụng, nó có thể thúc đẩy hoặc cản trở sự biến đổi của điều kiện vật chất ở mức độ nhất định.
Dù vậy, sức mạnh của ý thức không phải vô hạn. Nó phụ thuộc vào trình độ phản ánh hiện thực, mức độ thâm nhập vào người hành động, trình độ tổ chức khi chuyển thành hành động, và cả điều kiện vật chất sẵn có. Một ý tưởng hay đến mấy mà chỉ nằm trong đầu một người, không có người làm, không có công cụ và nguồn lực, thì vẫn là ý tưởng. Bên cạnh đó, ranh giới giữa hai hướng tác động không cố định. Ý thức từng đúng có thể trở nên lỗi thời khi hiện thực thay đổi, đòi hỏi việc kiểm tra, điều chỉnh nhận thức phải diễn ra liên tục chứ không làm một lần là xong.
Ý thức chỉ thay đổi hiện thực thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Điểm mấu chốt thường bị bỏ sót là: bản thân ý thức, tự nó, không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực. Muốn cải tạo thế giới, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất cụ thể. Ý thức tác động trở lại vật chất thông qua bàn tay con người: cầm nắm, di chuyển, can thiệp, biến đổi đối tượng bằng công cụ. Một bản thiết kế nhà đẹp đến đâu cũng không tự thành ngôi nhà; phải có người đào móng, trộn vữa, dựng tường, bản vẽ mới hóa thành nơi ở. Một kế hoạch ôn thi dù chi tiết vẫn là chữ trên giấy cho tới khi người học mở sách, làm bài, khắc phục lỗ hổng từng ngày.
Ý thức thuần túy không làm thay đổi hiện thực; ý thức chỉ trở thành hiện thực khi đi qua hành động thực tiễn của con người. Đây chính là lý do triết học duy vật biện chứng vừa tôn trọng khách quan, vừa đề cao tính năng động của con người. Khách quan vì thừa nhận vật chất quyết định; năng động vì tin rằng con người có thể thay đổi hiện thực bằng hành động có ý thức dẫn đường. Phân biệt rõ hai khía cạnh này giúp tránh hai thái cực: một là ngồi chờ hoàn cảnh tự đổi, hai là tưởng nghĩ gì cũng thành hiện thực mà không cần làm.

Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
Giải quyết đúng quan hệ giữa vật chất và ý thức, triết học Mác-xít rút ra hai ý nghĩa phương pháp luận cốt lõi: lấy thực tế khách quan làm điểm xuất phát và tôn trọng quy luật; đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức. Hai ý nghĩa này bổ sung cho nhau trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn.
Phương pháp luận là gì và vì sao cần rút ra từ mối quan hệ này
Phương pháp luận là hệ thống các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo hướng đích, giúp con người lựa chọn cách nhận thức đúng và giải quyết vấn đề đặt ra trong thực tiễn.4 Đó là tập hợp các phương pháp đồng bộ, nhất quán, đóng vai trò kim chỉ nam cho việc nhìn nhận và hành động. Một người có phương pháp luận đúng sẽ biết bắt đầu từ đâu, đi theo đường nào khi đối diện với vấn đề phức tạp.
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học, nên cách giải quyết nó quyết định toàn bộ cách nhìn về thế giới của mỗi trường phái. Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trước, quyết định ý thức; chủ nghĩa duy tâm đảo ngược thứ tự đó. Từ hai cách trả lời khác nhau, các trường phái rút ra những nguyên tắc chỉ đạo hành động hoàn toàn khác biệt. Vì thế, ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ này là nguyên tắc hành động được rút ra một cách tất yếu từ lập trường triết học, chứ không phải kết luận suông. Ai giải quyết đúng quan hệ này sẽ có phương pháp nhận thức và cải tạo thế giới đúng đắn; ai giải quyết sai sẽ hành động theo cảm tính, chủ quan.
Ý nghĩa thứ nhất: mọi nhận thức và hành động phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật
Vật chất quyết định ý thức, nên trong nhận thức lẫn thực tiễn, con người phải nhìn sự vật như nó đang tồn tại, tôn trọng quy luật và hành động theo quy luật đó.1 Ý muốn chủ quan, dù tốt đẹp đến đâu, cũng không thể làm cơ sở cho hành động. Đây là ý nghĩa phương pháp luận đầu tiên và quan trọng nhất, thường được gọi là nguyên tắc quan điểm khách quan.
Thực tế khách quan tồn tại độc lập với ý thức, vận động theo quy luật riêng của nó.3 Con người không thể bắt thế giới phải vận hành theo mong muốn của mình, mà chỉ có thể nhận thức quy luật rồi vận dụng quy luật đó để hành động. Khi cải tạo thế giới khách quan, phương hướng, biện pháp và kế hoạch đều phải căn cứ vào hiện thực đang tồn tại; nhiệm vụ thực tiễn chỉ giải được trên nền tảng tôn trọng sự thật. Một kế hoạch làm ăn bỏ qua điều kiện thị trường, một bài học bỏ qua nền tảng kiến thức hiện có, đều là lấy ý muốn chủ quan làm điểm xuất phát thay vì thực tế.
Nhiều người nhầm lẫn giữa hai việc: tôn trọng thực tế và buông theo hoàn cảnh. Thực ra, quan điểm khách quan không hạ thấp vai trò của con người, mà giúp tìm đúng điểm tựa để hành động.1 Thợ xây phải xem đất nền như thế nào trước khi thiết kế móng nhà; học sinh phải biết trình độ hiện tại của mình trước khi chọn phương pháp ôn tập. Nhờ vậy, mọi nỗ lực đều đặt trên cơ sở vững chắc thay vì trên ảo tưởng.
Trong quản lý nhà nước, nguyên tắc này thể hiện rất rõ: mọi chủ trương, chính sách, văn bản quy phạm pháp luật phải phản ánh trung thực thực tiễn khách quan, có cơ sở khoa học, phù hợp quy luật phát triển của xã hội.1 Không được lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, không lấy tình cảm làm điểm xuất phát chiến lược. Một văn bản luật nếu chỉ viết ra từ mong muốn mà không dựa vào điều kiện kinh tế, xã hội thực tế sẽ khó thi hành, hoặc thi hành rồi gây hệ lụy.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ yêu cầu: đường lối, chủ trương phải bắt đầu từ thực tiễn, coi trọng các quy luật khách quan, và thực tiễn chính là thước đo chân lý. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đặt ra yêu cầu tương tự: tư duy phải đổi mới, hành động phải theo quy luật khách quan, mọi chính sách cần có bằng chứng và dữ liệu thực tiễn làm nền, bảo đảm khả thi và hiệu quả.1 Cả hai văn bản đều minh chứng cho ý nghĩa phương pháp luận đầu tiên.
Trong đời sống thường ngày, nguyên tắc này áp dụng vào rất nhiều việc. Một người muốn giảm cân cần căn cứ vào thể trạng, thói quen ăn uống thật của mình thay vì áp đặt chế độ tập luyện của người khác. Một hộ kinh doanh muốn mở rộng cửa hàng phải khảo sát nhu cầu thực tế của khách hàng khu vực mình, không mở hàng vì thấy người khác mở được. Cách làm chung rất đơn giản: trước khi quyết định việc gì, hãy trả lời câu hỏi thực tế hiện nay đang như thế nào, mình đang có gì, điều kiện cho phép đến đâu.
Quan điểm khách quan còn đòi hỏi dám nhìn thẳng vào sự thật, kể cả sự thật không như mong đợi. Kết quả thi thấp, doanh số giảm, quan hệ căng thẳng đều là tín hiệu khách quan cần được nhìn nhận trung thực thay vì né tránh. Người né tránh sự thật thì không thể điều chỉnh hành động; người tôn trọng sự thật thì có cơ sở để thay đổi. Đó là lý do ý nghĩa phương pháp luận này đặt tôn trọng sự thật ở vị trí trung tâm của cả nhận thức lẫn hành động.
Ý nghĩa thứ hai: phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, không thụ động chờ đợi
Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất, nên con người cần khơi dậy sự năng động, sáng tạo ở mặt tinh thần, đề cao vai trò của nhân tố chủ quan, tránh ngồi chờ thời cơ tự đến rồi vuột mất. Đây là ý nghĩa phương pháp luận thứ hai, bổ sung cho ý nghĩa thứ nhất để tránh rơi vào thái độ buông xuôi.
Nhận thức quy luật khách quan chỉ là bước đầu.1 Con người dựa trên tri thức về quy luật để đề ra mục tiêu, phương hướng, phương pháp, rồi dùng ý chí thực hiện mục tiêu đó. Quy luật của mùa vụ không tự cấy lúa giúp nông dân; quy luật của thị trường không tự sinh lời cho người kinh doanh. Nhờ ý thức, con người biết trước diễn biến có thể xảy ra, chủ động chuẩn bị phương án, từ đó hành động hiệu quả hơn là chỉ phản ứng khi việc đã rồi.
Vận dụng quan điểm khách quan không cho phép phó mặc cho hoàn cảnh, mà đòi hỏi kết hợp tính khách quan của quy luật với sự chủ động, sáng tạo của con người.1 Học sinh biết mình đang yếu môn nào là tôn trọng thực tế; kèm theo đó, việc lập lịch ôn tập, chủ động tìm tài liệu, hỏi thầy cô là để ý thức làm việc theo đúng vai trò của nó. Thiếu vế sau, việc nhìn nhận thực tế trở thành cái cớ để không làm gì cả.
Thêm vào đó, ý thức đúng đắn còn tạo sức mạnh tinh thần to lớn. Nhận thức càng cao, mặt tinh thần càng phát huy được vai trò năng động, tạo nên sức mạnh tổng hợp giúp hoạt động đạt hiệu quả cao. Hai người có cùng hoàn cảnh khó khăn, người thấy đường ra và người chỉ thấy bức tường, sẽ đi tới hai kết quả khác nhau. Ngược lại, ý chí mà không dựa trên thực tế thì thành ảo tưởng; thực tế mà không có ý chí thì thành trì trệ. Giữ được cả hai, con người vừa không vi phạm quy luật, vừa không bỏ phí cơ hội mà quy luật mang lại.
Vận dụng vào học tập, công việc và đời sống hằng ngày
Từ bàn học đến bàn họp, hai ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức không nằm trên giấy để học thuộc. Chúng hiện ra trong từng việc hằng ngày: cách ngồi vào bàn học, cách ban hành một quy định, cách nhìn một đồng nghiệp mới, cách cả nước chọn lối đi cho nền kinh tế. Chuyển chúng thành việc làm cụ thể là phần còn lại, và cũng là phần quyết định giá trị của cả bài học.
Bốn lĩnh vực dưới đây lấy đúng từ thực tiễn quen thuộc của người Việt, mỗi lĩnh vực một cách làm riêng nhưng chung một nguyên tắc: nhìn thực tế trước, dùng ý thức sau.
Trong học tập và rèn luyện bản thân: học từ thực tế, chủ động tìm tòi
Cách học xuất phát từ thực tế là học theo đúng trình tự tiếp nhận kiến thức. Trước giờ lên lớp, xem qua giáo trình để biết bài sắp học nói gì, chỗ nào khó thì đánh dấu. Đến giờ học, phát biểu thảo luận thay vì ngồi nghe thụ động, vì nói ra được nghĩa là ý thức đã phản ánh đúng kiến thức, chưa nói ra được nghĩa là chỗ chưa nắm. Sau giờ học, tìm thêm bài tập và tài liệu để củng cố, biến điều vừa học thành điều vừa làm.
Lối học này phát huy đúng tính năng động của ý thức: bộ óc không ngồi chờ người khác đưa kiến thức đến mà chủ động đi lấy. Con người có khả năng biến đổi qua học hỏi, lao động và tương tác với môi trường xung quanh, nên việc rèn luyện bản thân là điều có căn cứ khoa học, không phải lời hứa suông. Người học chậm hơn bạn thường chỉ vì chưa tập được thói quen chủ động này; thói quen ấy tập được, như mọi kỹ năng khác, qua lặp lại đều đặn từng buổi học.
Trong quản lý và hoạch định chính sách: căn cứ dữ liệu thực tế thay vì mong muốn chủ quan
Ở tầm quản lý, nguyên tắc xuất phát từ thực tế khách quan hiện rõ nhất trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành quy định về lãi suất, dự trữ bắt buộc hay giới hạn tín dụng, cần căn cứ vào diễn biến lạm phát, thanh khoản và năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế.1 Ba đại lượng ấy là thực tại khách quan, đo được, không thay được bằng mong muốn chủ quan của bất kỳ cơ quan nào.
Đổi lại, hành động trái quy luật khách quan có hệ quả đo được. Nếu mục tiêu tăng trưởng tín dụng bị đẩy lên quá cao trong lúc nền kinh tế còn hấp thụ được ít vốn, nợ xấu và rủi ro thanh khoản dễ tăng, đe dọa an toàn của cả hệ thống ngân hàng.1 Mong muốn tăng trưởng là ý thức tốt, nhưng ý thức tốt đặt ngoài thực tại khách quan thì biến thành rủi ro. Bài học cho người làm quản lý ở mọi cấp là kiểm tra dữ liệu trước khi quyết định, và sẵn sàng điều chỉnh mục tiêu khi dữ liệu thay đổi, chứ không giữ mục tiêu chỉ vì đã công bố.
Trong đánh giá con người và xử lý tình huống: tránh chủ quan, cảm tính
Nhìn người là chỗ nguyên tắc tránh chủ quan, cảm tính bị thử thách nhiều nhất. Ca dao đã nói trước lối nhìn sai ấy: trông mặt mà bắt hình dong. Đánh giá một người chỉ qua cảm xúc cá nhân trong buổi gặp đầu, qua vẻ ngoài hay qua lời nói hay, là lấy ý thức chủ quan của mình thay cho thực tế của người ấy. Nhận thức đúng đòi hỏi tính toàn diện, xem xét cả vai trò của các nhân tố tinh thần. Nhưng nhân tố tinh thần phải xem qua hành vi trong thời gian dài, không phải ấn tượng nhất thời.
Mặt khác, khi hoàn cảnh vật chất thay đổi, cách nhìn cũng phải cập nhật theo hoàn cảnh mới. Chuyển đổi số là ví dụ rõ: hạ tầng còn thiếu, trình độ của một bộ phận cán bộ chưa đáp ứng, một số người dân chưa nhận thức đầy đủ về thủ tục hành chính trực tuyến. Nếu lãnh đạo cứ yêu cầu toàn bộ quy trình lên mạng ngay trong khi thực tế chưa cho phép, yêu cầu ấy trở thành hình thức. Có điều, tính đến hoàn cảnh nghĩa là sắp xếp lộ trình phù hợp từng bước, đào tạo trước, triển khai sau, để ý thức của đội ngũ theo kịp công cụ mới, chứ không hạ thấp yêu cầu.
Trong phát triển kinh tế: xã hội: đổi mới từ điểm xuất phát thấp, huy động nguồn lực của dân
Ở tầm cả nước, hai ý nghĩa phương pháp luận gắn với một mốc lịch sử mà nhiều người Việt đã trải qua. Gần 30 năm sau Đại hội VI, bộ mặt kinh tế nước ta đã thay đổi hẳn. Điểm xuất phát ấy thật ra rất khó: nước ta vốn có điểm xuất phát thấp và đứng trước nguy cơ tụt hậu cao trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Nhìn thẳng thực tế ấy, thay vì giấu nó đi, chính là bước đầu tiên để mọi quyết định đứng vững trên nền khách quan.
Trên thực tế đó, Đảng và Nhà nước đẩy mạnh đổi mới toàn diện, trong đó đổi mới kinh tế giữ vai trò chính, chủ đạo. Chủ trương huy động mọi nguồn lực trong và ngoài nước, đặc biệt nguồn lực của dân, là cách phát huy đúng chỗ tính năng động: sức mạnh của ý thức nằm ở việc huy động sức lao động, vốn và sáng kiến của hàng triệu người thành nguồn lực thật, chứ không nằm ở khẩu hiệu. Cách mạng khoa học và công nghệ phát triển trình độ cao đang thúc đẩy chuyển dịch kinh tế và đời sống xã hội, và tận dụng cách mạng ấy là lối đi ngắn cho nước chậm phát triển.
Ưu thế công nghệ và thị trường thuộc về các nước phát triển, khiến nước chậm phát triển đứng trước thách thức lớn; đây là điều kiện khách quan phải thừa nhận chứ không phủ nhận được. Chẳng hạn, cách nước ta xử lý điểm yếu nội tại thời đổi mới cũng theo tinh thần ấy. Trước một trận đánh, làm quyết tâm thư, tự phê bình và phê bình để khắc phục nhược điểm, tức là nhìn thẳng chỗ mình chưa tốt rồi sửa. Từ quy mô một người học tới quy mô một nền kinh tế, cách làm vẫn một: thực tế là điểm xuất phát, ý thức là sức đẩy, và hoạt động thực tiễn là nơi hai điều ấy gặp nhau.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- Vận dụng quan điểm khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng trong công tác xây dựng văn bản quy ph (tailieuhoctap.edu.vn) ↩a ↩b ↩c ↩d ↩e ↩f ↩g ↩h ↩i ↩j
- Vì sao Viettel lựa chọn triết lý đã tạo nên thành công cho các startup ở Silicon Valley để đặt tên cho phương pháp luận chuyển đổi số? (cafef.vn)
- Ý thức (triết học) (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c ↩d ↩e
- Phương pháp luận (Wikipedia) ↩