Chúc Mừng Năm Mới

Phong tục

Phong tục tập quán Việt Nam qua vòng tết âm lịch và nếp Tết ba miền

Một mâm ngũ quả Tết, nhà chồng bày năm loại quả miền Bắc, nhà vợ bày mãng cầu, dừa, sung, đu đủ, xoài miền Nam, và cả hai đều cho là đúng nếp. Các phong tục tập quán Việt Nam hình thành như thế nào, vì sao ba miền làm khác nhau là điều bài này trả lời.

13 phút đọc

Thử hình dung một cặp vợ chồng mới cưới, chồng quê Hà Nội, vợ quê Tiền Giang, lần đầu cùng lo mâm cỗ thờ tổ tiên ngày Tết trong nhà chung. Sáng hai mươi tám Tết, hai người đứng trước hai mâm quả: nhà chồng dặn bày năm loại quả đủ màu sắc, nhà vợ dặn bắt buộc phải có mãng cầu, dừa, sung, đu đủ, xoài, đọc lên nghe như một câu chúc. Mỗi bên đều có người lớn dặn dò tỉ mỉ, và mỗi bên đều cho là đúng nếp nhà mình.

Chuyện ấy không phải chuyện riêng của một nhà. Hàng năm, rất nhiều cặp vợ chồng hai miền về chung một mái đều gặp tình cảnh tương tự khi chuẩn bị mâm cỗ, mâm quả hay chọn hoa Tết. Muốn làm đúng mà không mất lòng ai, trước hết phải hiểu phong tục tập quán Việt Nam là gì, vì sao cùng một đất nước mà các nếp lại khác nhau đến vậy.

Phong tục khác tập quán chỗ nào

Hai chữ phong tục và tập quán người ta thường nói liền, nhưng theo Giáo sư Nguyễn Phạm Hùng trong cuốn Văn hóa du lịch, đây là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính lịch sử, trở thành chuẩn mực được mọi người thừa nhận và tuân theo.1 Tách riêng ra, phong tục là hoạt động sống của con người hình thành suốt chiều dài lịch sử, ổn định thành nề nếp, có tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác, và có thể bị đào thải khi không còn phù hợp. Trong khi đó, tập quán là phương thức ứng xử trong cộng đồng đã định hình thành nề nếp, bền vững, khó thay đổi hơn phong tục. Nói gọn, phong tục là cái người ta làm theo nếp, tập quán là cái người ta ứng xử theo nếp, và nếp ứng xử bền hơn nếp làm.

Các phong tục tập quán Việt Nam đều mọc lên từ cùng một gốc: nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Đời sống người Việt gắn bó với xóm làng, đề cao sự đoàn kết giữa các gia đình, hàng xóm.1 Ở làng có luật của làng gọi là hương ước, còn thợ thủ công ở xóm nghề, phố nghề có phường ước. Cả cộng đồng tự đặt ra nếp rồi cùng giữ nếp, đó là cách các tục sống dai qua bao thế hệ.

Một tục cũ mà vẫn thấy mặt trong lễ nghi hôm nay là tục ăn trầu. Miếng trầu gồm bốn nguyên liệu: cau mang vị ngọt, lá trầu không mang vị cay, rễ mang vị đắng và vôi mang vị nồng. Tương truyền tục này có từ thời Hùng Vương, gắn với chuyện cổ tích trầu cau. Dân gian có câu miếng trầu là đầu câu chuyện: miếng trầu đi đôi với lời chào, là biểu tượng tôn kính, phổ biến trong lễ tế thần, tế gia tiên, lễ tang, lễ cưới, lễ thọ, lễ mừng. Sách xưa còn ghi ăn trầu làm thơm miệng, hạ khí, tiêu cơm. Vì thế, trên mâm cỗ thờ cúng tổ tiên, trầu cau vẫn có mặt để thể hiện lòng thành kính của thế hệ sau với các thế hệ trước.

Bên miếng trầu là điếu thuốc lào, một thói quen ứng xử cộng đồng khác của làng quê xưa. Ở nhà, thuốc lào được hút bằng điếu ống hay điếu bát; xa nhà hoặc lúc cày bừa ngoài đồng thì người ta dùng điếu cày. Khách đến nhà, chủ nhà mời trầu, mời thuốc, đó là cách người xưa mở đầu cuộc nói chuyện.

Nhìn vào những tục ấy, có thể tách ra ba lớp. Một là việc làm cụ thể: bốn thứ trầu cau, điếu thuốc, mâm cỗ. Sau đó mới đến quan niệm đằng sau: miếng trầu tỏ lòng tôn kính, mâm cỗ thờ tổ tiên tỏ lòng hiếu kính. Cuối cùng là phần có thể giản lược hôm nay: người trẻ không cần học hút thuốc lào để giữ nếp, chỉ cần hiểu vì sao mâm cỗ gia tiên phải có trầu cau là đã giữ được phần lõi của tục.

Tết Nguyên Đán và lễ giao thừa

Trong các phong tục tập quán của Việt Nam, vòng các tết quanh năm dày và rõ nhất, mở đầu bằng Tết Nguyên Đán vào mồng một tháng giêng âm lịch. Đây là ngày tết lớn nhất trong năm, thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, dịp tưởng nhớ tri ân tổ tiên và gắn kết tình làng nghĩa xóm.

Tuy nhiên, Tết không bắt đầu từ mồng một. Ngày 23 tháng chạp là ngày Tết Táo quân, khi vua bếp lên chầu trời tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua. Mỗi gia đình thường mua hai mũ ông Táo, một mũ bà Táo bằng giấy và ba con cá chép làm ngựa đưa Táo quân về trời. Lễ cúng xong trong bếp, mũ giấy được đốt, còn cá chép được mang thả ra ao, hồ, sông. Ngày tiễn ông Táo được xem như ngày đầu tiên của Tết Nguyên đán. Sau đó người ta dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng tổ tiên, treo tranh, câu đối, cắm hoa để chuẩn bị đón tết.

Đêm giao thừa là khoảnh khắc nhiều người trẻ lần đầu lo lễ cảm thấy lúng túng nhất. Cúng ai, vì sao cúng ngoài trời? Theo tục cũ, mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thần nọ bàn giao cho thần kia, nên cúng giao thừa để tiễn ông cũ đón ông mới. Các cụ xưa hình dung lúc bàn giao có quân đi quân về đầy không trung, các vị thần bàn giao khẩn trương không vào nhà. Vì thế, lễ giao thừa được cúng ngoài trời với xôi gà, bánh trái, hoa quả, tức những món ăn nguội. Sau khi cúng giao thừa, gia chủ khấn Thổ Công, vị thần cai quản trong nhà, với lễ vật tương tự.

Giao thừa qua đi, các tết nhỏ nối tiếp nhau suốt năm, ít bài nào nói đủ. Tết Thượng nguyên, còn gọi Tết Nguyên tiêu, vào ngày rằm tháng giêng, ngày trăng tròn đầu tiên của năm, phần lớn tổ chức tại chùa vì rằm tháng giêng là ngày vía của Phật tổ; dân gian còn truyền câu lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng. Tết Thanh minh là tiết thứ năm trong nhị thập tứ khí, đến sau ngày Lập Xuân bốn mươi lăm ngày; chữ thanh là khí trong, minh là sáng sủa. Dịp này người ta đi tảo mộ từ sáng sớm đến gần trưa: đắp lại nấm mồ, rẫy cỏ dại, cắm hương, đốt vàng mã hoặc đặt hoa dâng người quá vãng. Theo đó, gia đình còn cúng mặn với cỗ hoặc đĩa xôi, con gà cùng hương hoa, trà rượu, vàng mã, và cúng cả Thổ Công.

Giữa năm lại có Tết Đoan Ngọ, còn gọi tết Đoan Dương: sáng sớm cho trẻ ăn hoa quả, rượu nếp, trứng luộc, bôi hồng hoàng vào thóp đầu, ngực, rốn để giết sâu bọ; người lớn cũng giết sâu bọ bằng cách uống rượu hoặc ăn rượu nếp. Rằm tháng bảy là Tết Trung nguyên, theo tín ngưỡng là ngày xá tội vong nhân. Các gia đình làm cỗ bàn, đốt vàng mã cúng gia tiên và cúng linh hồn không người chăm sóc, người ta còn thả chim lên trời, thả cá xuống sông để làm điều phúc đức.

Rằm tháng tám là Tết Trung thu, tết của trẻ em, còn gọi Tết đoàn viên vì trăng tròn là biểu tượng sum họp. Dấu ấn của dịp này xuất hiện từ rất sớm: hình ảnh trăng sáng đã được khắc trên mặt trống đồng Ngọc Lũ cách đây khoảng 2.500 năm.4 Theo các văn bia cổ, dưới thời nhà Lý, Tết Trung thu đã được tổ chức tại kinh thành Thăng Long với múa rối nước, rước đèn.4 Cuối năm có Tết Hạ nguyên, tức Tết cơm mới, vào rằm hay mồng một tháng mười, tổ chức rất lớn ở nông thôn vì là dịp nấu cơm gạo mới của vụ vừa xong, trước để cúng tổ tiên, sau để thưởng công cầy cấy. Cũng trong tháng mười, Tết Trùng thập vào mười tháng mười âm lịch là tết của các thầy thuốc; theo sách Dược lễ, ngày đó cây thuốc mới tụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời, nên nông thôn thường làm bánh dày, nấu chè kho cúng gia tiên rồi biếu người thân.

Ai muốn tra ngày âm lịch của từng tết cho chuẩn thì mở lịch vạn niên, còn ngày lành tháng tốt cho việc cúng, tảo mộ có thể xem ngày trước khi đi.

Góc bếp cũ với một con cá chép nằm trong chậu nước, hai mũ giấy nhỏ cạnh bát nhang đang tỏa khói, ánh sáng sáng từ cửa sổ
Ảnh minh họa

Ba miền đón Tết khác nhau

Cùng một dịp Tết, ba miền làm khác nhau ở hoa, bánh và mâm cỗ, và không bên nào đúng bên nào sai. Miền Bắc đón Tết với sắc thắm đỏ của hoa đào; bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất mẹ màu mỡ, sung túc. Khi biếu tặng, người Bắc luôn tặng bánh chưng theo cặp chứ không tặng riêng lẻ một cái; mâm cơm đầu năm thường có thịt đông, giò xào và mâm ngũ quả.

Miền Trung có các loại bánh đặc trưng ngày Tết là bánh tét, bánh tổ, bánh rò. Người miền Trung kiêng cúng cá chép vì coi con vật này sẽ hóa rồng khi vượt ải Vũ Môn, mà rồng tượng trưng cho vua chúa; trong ngày Tết họ cũng kiêng mặc quần áo màu trắng hoặc đen. Cỗ Tết ở đây được xếp theo bậc: gia cầm biết bay như chim, gà, vịt đứng trên, heo bò dưới hơn, tôm cua cá xếp theo thủy tộc; mâm cơm cúng tiên tổ còn có dưa món, giò lụa Huế, gà bóp rau răm.

Miền Nam đón Tết nhẹ nhàng, giản dị với mai vàng, năm cánh mai tượng trưng ngũ phúc là phước, lộc, tho, khang, ninh. Mâm ngũ quả gồm mãng cầu, dừa, sung, đu đủ, xoài. Vì thời tiết nắng nóng, mâm cỗ thường có nhiều đồ nguội, với ba món cơ bản là bánh tét, bánh tráng và nồi thịt kho tàu; món canh đặc trưng là canh khổ qua nhồi thịt.

Đặt ba mâm cạnh nhau, chuyện của cặp vợ chồng hai miền ở đầu bài tự hiểu: nhà chồng cắm hoa đào, nhà vợ cắm cành mai vàng năm cánh, hai nếp đều có ý riêng. Khác biệt ấy sinh ra từ khí hậu, cây trái và nếp sống từng vùng, chứ không phải từ chuyện ai đúng ai sai.

Đọc thêm: Người trẻ vào lễ hội truyền thống đúng nếp để giữ gìn văn hóa

Ý nghĩa và cách dung hòa hai nếp

Phía sau mọi khác biệt, những phong tục tập quán của Việt Nam cùng hướng về ba điều: quan hệ giữa con người với thiên nhiên, việc tưởng nhớ tri ân tổ tiên và gắn kết tình làng nghĩa xóm. Thờ cúng tổ tiên là lòng thành kính của con cháu với cha mẹ, ông bà, cụ kỵ, không phải một tôn giáo, và gần như gia đình người Việt nào cũng có bàn thờ tổ tiên trong nhà.

Nếp cũ không nằm trong sách vở mà vẫn sống và được thế giới ghi nhận. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 6/12/2012, tại kỳ họp Ủy ban Liên chính phủ bảo vệ Di sản Văn hóa phi vật thể diễn ra ở Paris.3 Theo truyền thuyết, Hùng Vương là con của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ, có công dựng nên nhà nước Văn Lang cổ đại; với cộng đồng dân cư quanh khu vực Đền Hùng, Hùng Vương còn là thần tổ gắn với nghề nông, dạy dân cày ruộng, cấy lúa.3 Biểu hiện tiêu biểu nhất của tín ngưỡng này là lễ Giỗ Tổ Hùng Vương, được thực hiện vào ngày mùng mười tháng Ba âm lịch hằng năm tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng.3

Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng vậy. Tam Phủ là ba vị thánh Mẫu gồm Mẫu Thượng Thiên, tức Bà Trời, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải, tức Bà Nước; Tứ phủ thêm Mẫu Địa Phủ. Đây là sự hỗn dung giữa tôn giáo bản địa của người Việt với một số yếu tố của Đạo giáo, Phật giáo; từ thế kỷ XVI, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành sinh hoạt văn hóa có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân.2 Ngày 1/12/2016, UNESCO ghi danh Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, trong khuôn khổ Phiên họp Liên Chính phủ về bảo vệ di sản lần thứ 11 tại thủ đô Addis Ababa, Ethiopia.2 Tín ngưỡng này phân bố ở Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và TP Hồ Chí Minh, với Nam Định được coi là trung tâm gần bốn trăm điểm thờ cúng Thánh Mẫu.2

Với gia đình trẻ hai miền, cách dung hòa không khó nếu hỏi và thống nhất theo thứ tự. Hỏi người lớn bên nào trước, bên nào có bàn thờ gia tiên thì theo nếp nhà đó cho phần cốt lõi: bàn thờ và lễ giao thừa. Phần còn lại như mâm ngũ quả, các món cỗ, có thể theo một bên hoặc pha cả hai. Cặp vợ chồng ở đầu bài có thể bày mâm ngũ quả kiểu Nam cho vui miệng tên quả mà vẫn giữ cỗ chay mặn theo nếp Bắc của nhà chồng. Người xa quê hay ở chung cư giữ nếp cũng vậy: giữ phần lõi là mâm cỗ thờ tổ tiên và hương hoa, còn hình thức bày biện thì gọn theo nơi ở. Ai muốn đọc kỹ hơn về phần thờ cúng trong nhà có thể xem bài phong tục thờ cúng tổ tiên, hoặc ngược dòng các tục cưới hỏi từ dạm ngõ đến lại mặt trước ngày về ra mắt hai họ.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nhúng đồng hồ đếm ngược đến Tết Nguyên đán vào trang của bạn. Miễn phí, chỉ cần sao chép một đoạn mã, dùng được trên mọi trang web.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com