Chúc Mừng Năm Mới

Học & lớn lên

Hùng Vương là ai và bí ấn con số 18 đời vua trong Ngọc phả

Vì sao cứ mùng 10 tháng 3 âm lịch, hàng vạn người lại đổ về núi Nghĩa Lĩnh, Phú Thọ dâng hương? Vì họ tưởng nhớ Hùng Vương, những vị vua được tôn là Thánh Tổ, cội nguồn của dân tộc Việt.

12 phút đọc

Ai dựng nên nước này? Câu hỏi cũ nhất của người Việt, sử sách và truyền thuyết cùng chỉ về các vua Hùng. Mỗi năm mùng 10 tháng 3 âm lịch, con đường lên Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, Phú Thọ chật kín người dâng hương, đến để nhớ ơn các vị vua ấy.

Người Lạc Việt lập nước Văn Lang, tồn tại khoảng từ thế kỷ VII đến thế kỷ II trước Công nguyên.4 Các vị vua ở đây đều mang vương hiệu Hùng Vương, truyền thuyết kể có 18 đời nối nhau trị vì.4 Người Việt tôn các vị ấy là Thánh Tổ, nghĩa là tổ chung của cả dân tộc.2

Hùng Vương trong truyền thuyết và sử liệu

Truyền thuyết kể rằng Lạc Long Quân, vốn thuộc dòng rồng ở thủy tộc, và Âu Cơ, vốn thuộc giống tiên, kết duyên và sinh ra một bọc trăm trứng. Trứng nở thành trăm người con. Vì một người ở núi, một người ở biển, hai người chia nhau nuôi con. Âu Cơ dẫn năm mươi người con lên núi.4 Người con trưởng được suy tôn làm vua, lấy hiệu Hùng Vương và đóng đô ở Phong Châu.4

Những ghi chép sớm nhất về các vị này nằm trong chính các bộ sách cổ của Việt Nam. Lĩnh Nam chích quái, soạn vào đời Lý Trần, kể lại chuyện Âu Cơ, Lạc Long Quân cùng các vua Hùng.4 Đại Việt sử lược, cũng vào đời Trần, chép người ở bộ Gia Ninh tự xưng Hùng Vương, đóng đô ở nước Văn Lang và truyền được 18 đời.

Phía bên kia biên giới, thư tịch Trung Quốc cũng ghi danh xưng này. Cựu Đường thư, viết năm 945, cho biết ở Giao Chỉ xưa có quân trưởng mang hiệu Hùng Vương, có phụ tá là Hùng Hầu. Thái Bình quảng ký, sách thế kỷ X, dẫn Nam Việt chí kể rằng vùng Giao Chỉ xưa có ruộng Hùng, dân Hùng.4

Nước Văn Lang theo các ghi chép có lãnh thổ rộng. Phía đông giáp biển Đông, phía tây chạy dọc dãy Hoàng Liên Sơn.4 Phía nam giáp nước Hồ Tôn, phía bắc tới một phần đất tỉnh Quảng Tây ngày nay. Dân số khoảng 40 đến 50 vạn người.4 Một nhà nước với dân số và lãnh thổ như vậy, nếu có thật, sẽ là nhà nước đầu tiên của người Việt.

Nhưng mở Đại Việt sử ký toàn thư, người đọc sẽ gặp ngay một con số khiến nhiều người phải dừng lại.

Sách chép tính từ Kinh Dương Vương năm 2879 trước Công nguyên đến hết thời các vua Hùng năm 258 trước Công nguyên là 2.622 năm. Chia cho 18 đời vua thì trung bình mỗi vị trị vì khoảng 150 năm. Nhà sử học Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án, hoàn thành năm 1775, đã viết: người ta không phải là vàng đá, sao lại sống lâu được như thế. Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, xuất bản năm 1919, cũng tính rằng mỗi ông vua trị vì non 150 năm. Theo ông, khó lòng có nhiều người sống lâu như vậy.

Điều cốt lõi nằm trong một bộ phả cổ ít người đọc kỹ. Bản Ngọc phả Hùng Vương soạn năm Thiên Phúc nguyên niên, tức năm 980 đời vua Lê Đại Hành, chép 18 nhành, tức 18 ngành, với tổng cộng 180 đời vua. Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh cũng viết là 18 ngành vua. Trong Ngọc phả, chữ đời phải hiểu là chữ thế trong Hán tự, nghĩa là một dòng gồm nhiều đời nối nhau. Đọc như vậy, con số 18 đếm các chi, các ngành, chứ không đếm từng người. Theo cách hiểu phổ biến ngày nay, mỗi chi có nhiều vị nối nhau trị vì và dùng chung một vương hiệu.7 Chẳng hạn có nhiều vị đều được gọi là Hùng Hiền Vương.7

Giáo sư Nguyễn Lân Dũng trong cuốn Hỏi gì đáp nấy, tập 19, NXB Trẻ, 2010, nói thẳng hơn. Con số 18 đời chỉ mang tính biểu trưng, nghĩa là nhiều đời vua truyền nối lâu dài. Không ai biết tên từng vị, cất công tìm cũng vô ích. Như vậy 18 là cách người xưa nói về một thời kỳ dài có nhiều đời vua nối nhau, chứ không phải một danh sách đếm được từng cái tên.

Còn năm 2524 trước Công nguyên, mốc mà nhiều tài liệu ghi là vị vua đầu tiên lên ngôi, xuất phát từ chính bản Ngọc phả. Theo đó Hùng Quốc Vương, húy là Hùng Lân, lên ngôi năm Đinh Tỵ, tức 2524 trước Công nguyên, và ở ngôi 272 năm.7 Các học giả đều lưu ý những thông tin này mang tính huyền thoại, không phải sử liệu có thể kiểm chứng.7

Vậy điều gì đã được xác nhận?

Khảo cổ học không tìm ra tên từng vị vua, nhưng cho thấy vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ có cư dân sinh sống và phát triển liên tục qua bốn nền văn hóa nối nhau. Đó là Phùng Nguyên khoảng 4.000 đến 3.500 năm trước, Đồng Đậu khoảng 3.500 đến 3.000 năm trước. Tiếp đó là Gò Mun khoảng 3.000 đến 2.500 năm trước và Đông Sơn khoảng 2.500 đến 1.800 năm trước. Giới sử học Việt Nam gọi cả giai đoạn này là thời đại Hùng Vương. Trong giai đoạn 1969 đến 1972, nhóm nghiên cứu do Phạm Huy Thông đứng đầu đã làm việc theo hướng liên ngành về thời kỳ này. Kết quả cho thấy trống đồng và văn hóa Đông Sơn tương ứng với thời đại ấy. Cách tiếp cận của họ là chứng minh có một xã hội đủ phát triển để hình thành nhà nước sơ khai, chứ không chứng minh từng vị vua. Viện Khảo cổ học Việt Nam xác nhận thời đại này là có thật trong lịch sử Việt Nam.6 Các thư tịch cổ dù có điểm dị biệt đều khẳng định nhà nước Văn Lang thực sự tồn tại.6

Như vậy, những gì đã được chứng minh là một xã hội lúa nước phát triển, có trống đồng Đông Sơn, đủ nền tảng để hình thành nhà nước sơ khai. Điều còn là huyền thoại là tên tuổi từng vị vua và các con số năm tháng cụ thể. Nguồn gốc của chính danh xưng Hùng Vương thì đến nay chưa có kết luận nghiên cứu chính thức. Một số sách cổ như Quảng Châu ký thế kỷ IV hay Thủy Kinh chú thế kỷ VI lại ghi là Lạc Vương.4 Hai chữ viết gần giống nhau nên có thể đã bị nhầm lẫn khi ghi chép.4

Vì sao người Việt thờ cúng vua Hùng

Lý do ngắn nhất nằm ở chính truyền thuyết: các vua Hùng là người dựng nước, và đạo lý uống nước nhớ nguồn khiến con cháu đời sau phải nhớ ơn.

Nhưng tín ngưỡng thờ cúng các vị vua này còn có một dòng chảy lịch sử riêng, kéo dài hơn hai nghìn năm.

Theo truyền thuyết, sau khi Thục Phán, tức An Dương Vương, được vua Hùng nhường ngôi, ông đã lên núi Nghĩa Lĩnh dựng đền thờ các tiền nhân. Hành động này được coi là khởi đầu của tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương.3 Một cách lý giải khác cho thấy tín ngưỡng này có gốc sâu hơn nữa: nó khởi nguồn từ lớp tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, thờ thần núi. Đến tận cuối thế kỷ XIX, tại đền Thượng trên núi Nghĩa Lĩnh, việc thờ thần núi, thần lúa vẫn đan xen với thờ các vị vua.

Quan hệ giữa tín ngưỡng thờ vua Hùng và tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt rất chặt. Người Việt thờ gia tiên trong gia đình, thờ tổ họ của dòng họ, thờ thành hoàng của làng.2 Trên cùng là thờ tổ chung của đất nước ở Đền Hùng.1 Vì tin rằng con cháu sinh sống đến đâu thì tổ tiên hiện diện đến đó, dân ta lập làng ở đâu cũng dựng một đền thờ các vị vua này.2 Chính vì thế tín ngưỡng này không phân biệt huyết thống, dòng họ, địa lý, vùng miền hay quốc gia. Nó được coi là tín ngưỡng tộc bái của một dân tộc có cùng nguồn gốc.2

Tín ngưỡng dân gian này từng được chính quyền phong kiến chính thức hóa bằng pháp luật. Thời Hồng Đức nhà Hậu Lê, vua Lê Thánh Tông sai Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố soạn bản Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh Vương triều Hùng. Từ đó, việc thờ cúng các vua được đưa vào khuôn khổ pháp lý của nhà nước.2 Năm 1479, trong Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Ngô Sĩ Liên đưa họ Hồng Bàng vào chính sử.2 Từ đó vua Hùng được tôn là Thánh Tổ, được chính quyền trung ương công nhận.

Còn ngày giỗ, ban đầu dân sở tại cúng tế vị vua thứ 18 vào ngày 11 tháng 3 âm lịch. Đến năm 1917, dưới triều vua Khải Định, Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc có công văn xin Bộ Lễ ấn định. Triều đình chính thức lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm làm ngày Quốc lễ, tức Giỗ Tổ Hùng Vương. Từ một ngày giỗ địa phương, ngày này trở thành quốc lễ của cả nước.

Sau khi nước nhà độc lập, các nghi thức tiếp tục được duy trì và nâng lên tầm nhà nước. Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN ngày 18 tháng 2 cho công chức nghỉ ngày 10 tháng 3 âm lịch để tham gia hoạt động Giỗ Tổ. Cùng năm đó, Phó Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng thay mặt Chính phủ về Đền Hùng dâng hương. Ông dâng tấm bản đồ Việt Nam và thanh bảo kiếm, để kính cáo tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong đánh tan giặc xâm lăng. Ngày 19 tháng 9 năm 1954, ngay sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đền Hùng. Người căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong rằng các vua Hùng đã có công dựng nước, thì Bác và cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước. Người hai lần về thăm Đền Hùng, lần thứ nhất ngày 19 tháng 9 năm 1954 và lần thứ hai ngày 19 tháng 8 năm 1962.

Ngày nay, ngày 10 tháng 3 âm lịch là một trong hai ngày nghỉ lễ duy nhất trong năm tính theo lịch âm, cùng Tết Nguyên đán. Ngày 2 tháng 4 năm 2007, Quốc hội phê chuẩn sửa đổi Bộ luật Lao động cho người lao động nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương ngày Giỗ Tổ. Bộ luật Lao động năm 2019 tiếp tục quy định người lao động nghỉ một ngày hưởng lương vào dịp này. Trên bình diện văn hóa thế giới, ngày 6 tháng 12 năm 2012, UNESCO đã đưa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ vào danh sách di sản phi vật thể của nhân loại. Các chuyên gia của tổ chức này đánh giá di sản đáp ứng tiêu chí quan trọng nhất trong năm tiêu chí: giá trị vượt ra ngoài một vùng, một nước, đánh thức ý thức chung của mọi dân tộc.

Bàn thờ gỗ trong một ngôi đền tối, đặt bát hương đồng đang khói, đĩa trái cây, lá trầu, chén nhỏ và tấm vải đỏ
Ảnh minh họa

Giỗ Tổ hôm nay và điều cần hiểu đúng

Mỗi dịp Giỗ Tổ, Khu Di tích Đền Hùng lại chuẩn bị từ sớm. Người ta sắp xếp lại hàng quán tại ngã 5 Đền Giếng, chỉnh trang khuôn viên xong trước ngày mồng 1 tháng 3 âm lịch. Tại các ngày chính lễ, người ta thực hiện các nghi thức dâng hương tưởng niệm các vua Hùng, giỗ Đức Quốc Tổ Lạc Long Quân, dâng hương Tổ Mẫu Âu Cơ và rước kiệu về Đền Hùng. Phần Lễ gồm nghi thức dâng hương, dâng hoa của đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các bộ ngành, các tỉnh, cùng bà con trong nước và kiều bào. Bên cạnh phần Lễ, dịp Giỗ Tổ còn gắn với Tuần Văn hóa - Du lịch Đất Tổ. Từ ngày 21 đến 24 tháng 4, tại Quảng trường Hùng Vương, thành phố Việt Trì, nghệ nhân nhiều tỉnh đã trình diễn 15 di sản văn hóa được UNESCO tôn vinh.

Lễ hội được tổ chức theo nguyên tắc 5 không: không ăn xin ăn mày, không ùn tắc, không chèo kéo chặt chém, không hành vi phản cảm, không mất vệ sinh. Sở Y tế Phú Thọ lập tổ cấp cứu thường trực 24/7 tại Khu Di tích, bố trí thêm xe cứu thương trong dịp lễ.

Một chi tiết nhỏ cho thấy ngày này đã đi sâu vào đời sống. Bộ tem Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương gồm ba mẫu giá 3.000 đồng, 7.000 đồng, 8.500 đồng và một khối tem giá 14.000 đồng. Trên tem vẽ cổng đền Hùng, đoàn con Lạc cháu Hồng dâng lễ, trưởng lão tế vua Hùng và bánh chưng bánh giầy dâng lên vua Hùng.

Còn điều cần hiểu đúng, giáo sư Nguyễn Lân Dũng đã nói sẵn. Con số 18 đời chỉ biểu trưng cho nhiều đời vua truyền nối lâu dài, không ai biết tên từng vị, đừng cất công tìm vô ích. Ngày 10 tháng 3 âm lịch vì thế là dịp nhớ về một thời đại dựng nước đã được khảo cổ học xác nhận, và về đạo lý uống nước nhớ nguồn mà người Việt đã giữ suốt hơn hai nghìn năm.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com