Chúc Mừng Năm Mới

Phong tục

Văn khấn rằm tháng Giêng trong nhà và ngoài trời, giờ cúng đẹp

Giờ Ngọ (11-13 giờ) ngày 15 tháng Giêng âm lịch được dân gian xem là lúc cúng tốt nhất, vì trời đất giao hòa; văn khấn rằm tháng Giêng trong nhà và ngoài trời theo đó có bố cục, lễ vật khác nhau.

13 phút đọc

Mỗi độ Tết Nguyên Tiêu, không ít gia đình trẻ lần đầu tự lo trọn lễ rằm đầu năm: nhà chồng quen cỗ mặn dâng gia tiên, nhà vợ quen mâm chay thanh đạm; ra đến chỗ bày mâm ngoài trời thì hai bên nghe hai kiểu văn khấn rằm tháng Giêng khác nhau trên mạng, chẳng biết bài nào đúng.

Chuyện hai nếp nhà gặp nhau trong một buổi lễ là chuyện rất đời. Câu trả lời nằm ở chỗ hiểu rõ từng kiểu khấn dùng cho mục đích gì, mâm lễ mỗi kiểu cần những gì, và giờ nào cúng là đẹp.

Ngày rằm đầu năm

Rằm tháng Giêng là ngày trăng tròn đầu tiên của năm âm lịch, còn gọi là Tết Nguyên Tiêu hay lễ Thượng Nguyên. Tên gọi ấy có nghĩa rõ: chữ Nguyên là thứ nhất, chữ Tiêu là đêm, nên Tết Nguyên Tiêu chính là đêm rằm đầu tiên của năm mới. Còn tên Thượng Nguyên dùng để phân biệt với Tết Trung Nguyên rằm tháng Bảy và Tết Hạ Nguyên rằm tháng Mười.

Người Việt coi đây là lễ lớn ngay sau Tết Nguyên Đán, đến mức dân gian có câu Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng.1 Theo quan niệm dân gian, đây là lúc trời đất với con người giao hòa, thuận lợi để cầu bình an, tài lộc cho cả năm.1

Muốn sắp lịch thì tra lịch vạn niên cho nhanh: Rằm tháng Giêng năm 2025 rơi vào thứ Tư, ngày 12/02/2025 Dương lịch; Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ rơi vào thứ Ba, ngày 3/3/2026 Dương lịch.

Về nguồn gốc, nhiều cách lý giải gắn lễ này với thuyết tam nguyên của Đạo giáo: rằm tháng Giêng là ngày kính Thiên Quan đại đế, vị thần ban phúc. Các bản sớ xưa thường ghi bốn chữ Thiên Quan tứ phúc, nghĩa là ngài Thiên Quan ban phúc lành. Ngày nay các chùa Việt Nam vẫn tụng kinh Dược Sư dịp này, cầu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, nên nhiều người quen gọi là ngày lễ Phật, dù gốc gác lễ hội không hẳn vậy.

Bố cục văn khấn rằm tháng Giêng trong nhà

Bài văn khấn rằm tháng Giêng cúng gia tiên không phải đọc tùy hứng mà có bố cục quen thuộc, ai soạn bài cho nhà mình cũng nên nắm để đọc cho trọn lễ. Về hình thức, văn khấn là bài văn soạn sẵn dùng để khấn, vái trong dịp lễ quan trọng; gia chủ đứng trước bàn thờ, chắp tay vái hoặc lạy rồi đọc, giọng rõ ràng, thành kính.

Mở bài khấn gia tiên là ba lần Nam mô A Di Đà Phật. Sau đó kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, rồi đến Hoàng thiên Hậu Thổ, Bản cảnh Thành hoàng, Bản xứ Thổ địa, Bản gia Táo quân. Cuối cùng là các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ cùng họ nội họ ngoại.

Điểm người đọc dễ quên nhất là phần xưng danh. Gia chủ phải đọc rõ họ tên, địa chỉ nơi ở, rồi nói rõ hôm nay là ngày rằm tháng Giêng gặp tiết Nguyên Tiêu, lòng thành sắm sanh hương hoa trà quả dâng lên trước án.

Phần thời gian trong bài khấn không đọc đại một năm nào cả. Trong sách Văn khấn cổ truyền Việt Nam do NXB Văn hóa Thông tin ấn hành, mẫu cổ truyền ghi chung là Hôm nay là ngày rằm tháng Giêng năm..., gặp tiết Nguyên tiêu. Chỗ trống ấy để gia chủ tự điền năm can chi âm lịch của năm đang cúng khi đọc. Nhờ vậy bài khấn dùng được nhiều năm, chỉ cần thay phần năm cho đúng.

Một chi tiết nữa đáng nhớ: bài văn khấn Thần linh và Thổ công thường được đọc trước bài cúng gia tiên. Bài này kính lạy Đông trù Tư mệnh Táo phủ Thần quân, Bản gia Thổ địa Long Mạch Tôn thần, Ngũ phương Ngũ thổ, Phúc đức Tôn thần, Tiền hậu địa chủ tài thần.1 Đến lượt bài gia tiên, phần mời còn có các vị tinh quân như Nhật cung Thái Dương thiên tử tinh quân, Nam Tào Bắc Đẩu, Thái Bạch, Tử vi, Văn Xương Văn Khúc, La Hầu Kế Đô giáng lâm trước án. Cùng Tiền chủ, Hậu chủ về thụ hưởng lễ vật, cầu cho gia đình vạn sự tốt lành, bốn mùa không hạn ách, tám tiết hưởng an bình.1

Người lần đầu tự lo lễ chỉ cần nhớ trình tự: chắp tay vái hoặc lạy trước bàn thờ, đọc bài Thần linh Thổ công trước, bài gia tiên sau, xưng tên địa chỉ rõ ràng, điền đúng năm can chi. Đọc chậm, đọc hết câu, không bỏ phần mời các cụ tổ tiên là đã trọn lễ.

Mâm cỗ nhiều món gồm gà luộc, nem rán, canh, dưa hành và gói lá xanh buộc lạt đặt trên mâm tre trên bàn gỗ
Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo

Văn khấn ngoài trời và mâm cúng chúng sinh

Khấn ngoài trời không phải chỉ có một kiểu. Tư liệu về tục cúng rằm cho thấy hai kiểu khác hẳn nhau, áp dụng cho hai mục đích khác nhau, mà nhiều người trẻ hay nhầm làm một.

Kiểu thứ nhất là cúng thần linh, thánh theo bốn hướng. Cách này có thể đặt bốn bàn lễ: hướng Bắc thờ Thượng Đế, hướng Nam thờ vị Thần, hướng Tây thờ Phật, hướng Đông thờ Vua, Hoàng đế, Thánh nhân, quan đại thần, trạng nguyên, anh hùng liệt sĩ. Mâm lễ theo truyền thống gồm gà trống trắng luộc chín một con, một miếng thịt dê hấp, đĩa xôi đỏ, đĩa hoa quả. Có 99 thuyền vàng, 99 thỏi vàng, 99 lá vàng, không cúng tiền âm phủ. Kèm theo là ba chén rượu trắng, đỏ, vàng và ba chén trà hương vị khác nhau; mỗi bàn lễ đốt 5 ngọn nến, thắp 9 nén nhang.

Điều đáng lưu ý nằm ở bài khấn hướng Tây. Riêng bàn lễ Phật làm cơm chay, không có tiền vàng và rượu; câu mở đầu là ba lần Con nam mô A Di Đà Phật, lạy chín phương trời, mười phương đất, chư Phật mười phương. Các bài khấn hướng Đông, hướng Nam, hướng Bắc lại không khởi đầu bằng câu ấy, vì chúng hướng tới thần linh, thánh nhân chứ không phải lễ Phật.

Mâm lễ cầu kỳ kiểu bốn bàn như thế không phải gia đình nào cũng làm được. Phần lớn các nhà chọn mâm cúng ngoài trời giản dị hơn. Mâm gồm hương, hoa tươi, trái cây, đèn nến, trầu cau, rượu, nước, gạo, muối, bộ tam sên với thịt luộc, trứng luộc, tôm hoặc cua luộc. Có thêm xôi gấc hoặc xôi chè, chè, bánh kẹo, giấy tiền vàng mã. Mâm này bày ở sân trước, hướng về trời đất.

Kiểu thứ hai là cúng chúng sinh, dân gian còn gọi là cúng cô hồn hay cúng thí thực, tức bố thí cho các vong hồn không nơi nương tựa. Theo quan niệm dân gian, rằm tháng Giêng là dịp các vong hồn được xá tội trở về dương thế, nên gia chủ dâng hương hoa trà quả, cháo loãng, gạo muối, tiền vàng, quần áo cho các vong linh. Bài khấn chúng sinh khởi đầu bằng ba tiếng Nam mô A Di Đà Phật, kính lạy mười phương chư Phật, chư Bồ tát, chư Hiền Thánh Tăng và Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, Đức Mục Kiền Liên Tôn Giả.

Sau phần xưng tên, địa chỉ, gia chủ mời về thụ hưởng. Người được mời gồm thập loại cô hồn, oan hồn uổng tử, những linh hồn có tên mà không có chỗ thờ. Có cả linh hồn có chỗ thờ mà không có tên, nam nữ thương vong, cùng các vong linh có duyên với gia đình. Lời khấn cầu cho các vong hồn được no đủ, siêu sinh Tịnh độ, đất nước thái bình, nhân dân an lạc.

Mâm cúng chúng sinh có quy mô khiêm tốn hơn mâm lễ thần linh: cháo loãng chia 12 bát nhỏ, gạo, muối, bánh kẹo, bỏng ngô, khoai lang luộc, tiền vàng, quần áo chúng sinh, nước lọc hoặc rượu, hương, nến. Ba món cháo loãng, gạo, muối là phần cơ bản, vì vong hồn đói khổ nhận được những món này dễ nhất. Mâm thường đặt ở sân, vỉa hè hoặc ngã ba đường, mặt gia chủ quay ra đường.

Dù kiểu nào, người cúng ngoài trời cũng mặc trang phục gọn gàng, lịch sự và giữ vệ sinh khu vực cúng.

Đọc thêm: Hai bài văn khấn rằm tháng 9 và mọi ngày rằm, đọc từ giấy vẫn trọn lễ

Mâm cỗ mặn và mâm chay

Trong nhà, các gia đình thường chuẩn bị hai mâm: mâm mặn dâng bàn thờ gia tiên và mâm chay dâng thần, Phật. Hai nếp Bắc Nam mà những gia đình trẻ ở đầu bài gặp phải thực ra nằm trong khuôn chung này, chẳng có bên nào sai.

Cỗ mặn truyền thống dâng gia tiên gồm 4 bát và 6 đĩa: 4 bát là canh măng, canh bóng, bát miến, mọc; 6 đĩa gồm thịt gà hoặc thịt lợn luộc, giò hoặc chả, nem, món xào, dưa hành, xôi hoặc bánh chưng.1 Nhà muốn gọn thì mâm mặn chỉ cần hương hoa, đèn nến, xôi gà, canh bóng.

Cỗ chay dâng Phật bày thanh đạm, gồm hoa quả, chè, xôi, món xào chay, món từ đậu, canh măng nấm hoặc canh rau củ chay, bánh trôi nước, mỗi món đặt trong bát hoặc đĩa nhỏ vừa phải.1 Cỗ chay tùy loại có từ 10, 12 tới 25 món. Chi tiết bánh trôi nước trên mâm chay ngày nay mang ước nguyện cả năm mọi việc trôi chảy, hạnh phúc tròn đầy. Mâm chay phải có đủ màu sắc tượng trưng cho ngũ hành. Theo đó, đỏ thuộc hỏa, xanh thuộc mộc, đen thuộc thủy, trắng thuộc kim, vàng thuộc thổ.

Nhà có bàn thờ Phật thì có thể chuẩn bị mâm cúng chay, hoặc đơn giản chỉ cần mâm ngũ quả, một đĩa xôi hoặc chè, một lọ hoa tươi, bánh kẹo. Gia đình ít người, nhà chung cư không cần mâm cao cỗ đầy nhưng cũng không sơ sài. Lễ vật cơ bản gồm hương, hoa quả tươi, gạo muối, nước, rượu, đèn nến, trầu cau, tiền vàng mã, xôi, thịt luộc. Muốn thêm thì thêm giò, chả, canh măng, rau xào.

Nếp cúng ba miền

Gom về một chỗ thì ba miền mỗi nơi một nếp: miền Bắc chuộng mâm chay thanh đạm, miền Trung làm mâm cúng cầu kỳ, miền Nam bày mâm phong phú với món ăn vùng sông nước. Khác biệt ấy là chuyện phong vị, không phải chuyện đúng sai, và trong một gia đình có thể giữ cả hai nếp cùng một buổi lễ.

Ngoài nếp cúng trong nhà, nơi có cộng đồng người Hoa đông như Chợ Lớn và Hội An còn giữ lễ hội Nguyên Tiêu rực rỡ với diễu hành đường phố, múa lân sư rồng, ca kịch cổ truyền, đố chữ, thả hoa đăng. Tết Nguyên Tiêu của người Hoa ở Quận 5, TP.HCM đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia từ năm 2020. Nhiều địa phương cũng khôi phục đêm Nguyên Tiêu gắn với Ngày thơ Việt Nam, thành sinh hoạt thường niên.

Một người phụ nữ mặc áo dài bước trong sân chùa cổ kính lúc chạng vạng, lư hương đá bốc khói mỏng
Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo

Giờ cúng và chỗ bày lễ

Theo phong tục, thời điểm cúng tốt nhất là giờ Ngọ, từ 11 đến 13 giờ, trong ngày chính rằm 15 tháng Giêng âm lịch, vì được xem là lúc trời đất giao hòa, thần linh dễ chứng giám. Nếu không cúng được giờ Ngọ, gia chủ vẫn có thể tiến hành lễ từ sáng ngày 14 đến trước 19 giờ ngày 15 tháng Giêng.

Cúng trước một ngày cũng được: ngày 14 tháng Giêng âm lịch có giờ tốt như giờ Bính Thìn từ 7h đến 9h, giờ Tư Mệnh hoàng đạo, và giờ Mậu Ngọ từ 11h đến 13h, giờ Thanh Long hoàng đạo. Ngược lại, không nên cúng sau 19 giờ ngày 15 âm lịch; tốt nhất hoàn thành trước 12h trưa cùng ngày.

Với nhà phố và chung cư, mâm lễ ngoài trời bày ở sân trước, ban công hoặc sân thượng, hướng về trời đất. Trước khi bày, dọn sạch khu vực đó và trải chiếu hoặc khăn; người cúng ăn mặc chỉn chu. Ai muốn chọn thêm giờ đẹp cho việc riêng có thể tra trên trang xem ngày tốt trước khi sắp lễ và in bài văn khấn rằm tháng Giêng ra đọc.

Đọc thêm: Giật cô hồn là gì, nguồn gốc tục lệ sau cúng rằm tháng Bảy

Điều nên giữ, điều giản lược

Khi hai nếp nhà khác nhau như những gia đình trẻ đã nói ở đầu bài, cách dung hòa không phải bảo bên nào bỏ nếp mình. Người trẻ có thể bày cho người lớn nghe cả hai cách: bày một mâm mặn giản dị dâng gia tiên theo nếp nhà chồng, một mâm chay dâng Phật theo nếp nhà vợ, cùng trong một buổi lễ; hỏi thẳng người lớn nhà nào giữ gì trước, thống nhất rồi mới sắm lễ, đừng để đến ngày rằm mới bàn.

Với người đi chùa hoặc có bàn thờ Phật tại nhà, phần lễ Phật có bài riêng. Tại chùa, bài lễ bái Tam Bảo mở đầu bằng ba lần Dốc lòng kính lễ Phật, Pháp, Tăng thường ở khắp mười phương, mỗi lần đọc lạy một lạy; sau đó cầm ba nén hương quỳ đọc tiếp bài nguyện Nguyện mây hương lành này, biến khắp mười phương giới.. ..

Phật tử cúng Phật tại nhà thì có thể quỳ trước bàn thờ, tụng một thời kinh Phổ Môn hay kinh Dược Sư, nguyện cho gia đạo bình an; ai không tụng kinh được thì dâng hương và đọc bài lễ bái Tam Bảo.

Phần cốt lõi nên giữ là lòng thành và nguyên tắc tùy tiền biện lễ: mâm cỗ không cần cao đầy nhưng không sơ sài. Ngoài cúng trong nhà, ngày rằm tháng Giêng người Việt còn đi chùa, giữ nghi lễ phóng sinh, ăn chay và làm việc thiện, phần nào nhẹ gánh cho mâm lễ mà vẫn trọn ngày lễ lớn đầu năm.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com