Phong tục
Cách đọc văn khấn đình làng đúng lễ, từ bố cục bài khấn đến trình tự
Cùng vào đình dâng lễ, có người được khen thành kính, có người bị cụ già nhắc làm sai lệch. Đọc văn khấn đình làng đúng là đúng trình tự hành lễ, đúng lễ vật, đúng thái độ, chứ trót lọt từng chữ chưa đủ.
Ngày rằm đứng trước chính điện, nhiều người lần đầu vào đình không biết bắt đầu từ đâu, trong khi mấy cụ cao niên trong làng dâng lễ trơn tru từ lúc bước qua cổng đến lúc lui ra, từng bước đều có trật tự của nó.
Đình làng là trung tâm tín ngưỡng và văn hóa của làng xã Việt Nam, nơi thờ Thành Hoàng, vị thần bảo hộ cho cộng đồng dân cư. Văn khấn đình làng là lời tâm sự của con cháu thể hiện lòng thành kính, biết ơn với thần linh. Đọc đúng ở đây nghĩa là đúng cả trình tự, lễ vật và thái độ, chứ không đơn thuần là đọc không sai một chữ.
Thành Hoàng là ai
Muốn khấn đúng, trước hết phải biết mình khấn với ai. Thành Hoàng làng là vị thần bảo hộ tối cao của cả cộng đồng, thường là người có công khai hoang lập ấp, lập nghề, dạy học, đánh giặc, cứu người, hoặc một vị anh hùng dân tộc được triều đình sắc phong. Làng nào cũng có một vị như thế, và đình làng chính là nơi giữ những nghi lễ quan trọng nhất của cả làng, từ tế lễ đến hội hè.
Nhiều làng nghề còn thờ ông tổ nghề làm Thành Hoàng, dân làng mở hội đúng ngày sinh hoặc ngày hóa của vị thần theo lịch âm. Ngoài dịp lễ hội lớn, người dân có thể đến đình cúng vào ngày rằm, mùng 1 hàng tháng để cầu bình an, hoặc dịp đầu xuân năm mới.
Lễ Thành Hoàng làng xưa thường gắn với tết cổ truyền hằng năm, kèm đền cúng, rước đuốc, lễ hội và diễu hành. Câu “phép vua thua lệ làng” nói lên sức mạnh của luật tục làng xã, mà đình chính là nơi giữ những lệ ấy. Hiểu được vị thế của Thành Hoàng, người ta mới hiểu vì sao mỗi câu khấn ở đình đều phải trang trọng.
Cũng vì thế, văn khấn đình làng không dùng cho một dịp duy nhất. Bài khấn được dùng trong lễ cầu an đầu năm, lễ tế thần linh Thành Hoàng vào ngày kỵ hoặc ngày sinh của vị thần, lễ hội truyền thống, lễ cầu mùa, lễ tạ ơn sau mùa gặt, hoặc khi làng vừa vượt qua thiên tai, dịch bệnh. Mỗi dịp ấy lời cầu khác nhau, nhưng bố cục và thái độ hành lễ thì một nếp.
Nghi thức tế cổ truyền tại đình
Trong tế lễ đình làng, Ban tế là những người được dân làng và hội người cao tuổi cử ra, được chính quyền địa phương công nhận để đại diện dân làng làm lễ tế. Một Ban tế đầy đủ gồm Chủ tế, Bồi tế, Đông xướng, Tây xướng, Nội tán, Chấp sự và Đồng văn, mỗi người một vai, không ai thay ai.
Buổi tế mở đầu bằng ba hồi trống, Đông xướng hô “Khởi chinh cổ”, chấp sự đánh ba hồi chiêng, ba hồi trống. Tiếp theo là khâu Củ soát tế vật, tức kiểm tra lại toàn bộ lễ vật trước khi dâng. Chủ tế rồi quán tẩy, nghĩa là rửa tay, rồi thuế cân, nghĩa là lau tay sạch sẽ, tất cả đều theo lệnh xướng của hai bên Đông xướng, Tây xướng.
Phần trọng tâm là dâng rượu ba tuần, chia làm sơ hiến, á hiến và chung hiến, tức dâng rượu lần thứ nhất, thứ hai và thứ ba cho thần linh. Đến lệnh “Độc chúc”, hai chấp sự bưng văn tế ra, chủ tế vái rồi trao cho người được chỉ định đọc chúc; đọc xong, chủ tế lạy hai lạy rồi lui ra phía ngoài.
Chưa hết. Sau phần chúc văn là hai nghi thức nhỏ mà nhiều người hay bỏ qua: Ẩm phúc là chủ tế uống chén rượu thần ban, Thụ tộ là ăn miếng trầu, rồi mới tạ lễ bốn lạy để khép lại buổi tế.
Tế quan xưa có quy cách ăn mặc riêng. Quan văn mặc áo thụng xanh thêu bộ Cầm như phượng, hạc, cò; quan võ thêu bộ Thú như kỳ lân, hổ; cả hai đều mặc quần trắng, đi hia, đội mũ hoa quan. Riêng ông chủ tế mặc quần trắng, áo thụng đỏ, hia đỏ, mũ hoa quan đỏ; hai ông từ mặc áo the đen, quần trắng, đội khăn xếp đen. Những năm gần đây, đội tế nữ quan mặc áo dài vàng hay đỏ, đội khăn dây quấn trên đầu cũng phổ biến.

Bố cục bài văn khấn đình làng
Người thường đi đình ngày rằm hay mùng 1 không cần đọc chúc văn dài như chủ tế, chỉ cần nắm bố cục bài khấn cá nhân. Bài văn khấn đình làng mùng 1, rằm mở đầu bằng câu “Nam mô A Di Đà Phật” lặp ba lần, sau đó lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật.
Tiếp đến là phần kính lạy các vị thần: Hoàng Thiên Hậu Thổ, ngài Kim Niên Đương cai Thái tuế, ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương. Đây là phần quan trọng nhất, vì Thành Hoàng là đối tượng chính của lễ dâng tại đình.
Sau phần kính lạy, người đọc xưng tín chủ, khai rõ họ tên, địa chỉ, ngày tháng năm âm lịch và lễ vật dâng cúng. Bài văn khấn đình làng xưa viết theo thể biền ngẫu, câu cách 5 cách 7, lời trang trọng mang tính cầu khẩn. Người không thuộc bài cũng không sao, miễn đọc với thái độ thành tâm.
Cách đọc cũng có nếp. Khi đọc, đứng trang nghiêm, chắp tay trước ngực, có thể đọc thầm hoặc đọc nhỏ vừa đủ nghe. Một người trẻ lần đầu đi đình đọc nhỏ như thế là đủ, không cần đọc to. Riêng trong lễ hội, âm điệu đọc văn khấn phải trầm bổng, rõ ràng, đủ vang trong điện thờ nhưng tuyệt đối không gào thét mất tôn nghiêm. Tư thế đứng hay quỳ trên chiếu hoa tùy tục lệ từng đình, nhà nào giữ nếp nhà ấy.
Mâm lễ theo từng dịp
Lễ đình làng dâng gì tùy vào dịp. Ngày rằm, mùng 1, người ta ưu tiên mâm chay thanh đạm: hương, cặp đèn nến, bình hoa tươi, đĩa trầu cau tươi 3-5 quả có nhánh lá trầu, ngũ quả theo mùa, nước sạch hoặc trà. Hoa tươi chọn cúc vàng, hồng đỏ, hoa sen; ngũ quả gồm chuối, bưởi, cam, quýt, xoài. Một gia đình ở chung cư đi đình ngày rằm chỉ cần mâm chay gọn như thế là đủ.
Lễ chay gồm hương, đèn nến, hoa tươi, đĩa quả, oản phẩm, bánh kẹo, xôi chè, trầu cau, rượu trắng, nước sạch, dùng được trong mọi dịp lễ. Ngày thường, nhiều nơi vẫn cúng mặn tùy tục lệ từng nơi.
Riêng mùng 1 Tết Nguyên đán, mâm lễ mặn bắt buộc đầy đủ hơn: gà trống luộc ngậm hoa hồng đỏ, xôi gấc, rượu nếp, kèm bánh chưng xanh và giò lụa; mâm ngũ quả cũng chọn kỹ hơn với bưởi to tròn, nải chuối xanh còn tươi. Lễ mặn trong dịp lớn thường có gà luộc nguyên con ngậm hoa hồng hoặc quả cau, chân giò luộc, xôi gấc, giò chả.
Song với chay và mặn, một số nơi còn có tục dâng đồ sống để cầu tài lộc, bình an. Lễ đồ sống theo lệ bày 5 quả trứng vịt sống trên đĩa muối gạo, hai trứng gà sống để vào hai cốc nhỏ, một miếng thịt mồi khía thành năm phần nhưng không đứt rời, kèm tiền vàng; đây là lễ dâng quan Ngũ Hổ, Bạch xà, Thanh xà ở hạ ban Công Đồng Tứ phủ.
Có nơi còn sắm cỗ mặn sơn trang theo con số 15: 15 con ốc hay cua, 15 quả ớt, chanh, hoặc một quả khía làm 15 phần; số 15 tương ứng 15 vị được thờ tại ban sơn trang, gồm 1 vị chúa, 2 vị hầu cận và 12 vị cô sơn trang. Riêng lễ ban thờ Cô, thờ Cậu gồm oản, quả, hương hoa, cùng đồ hàng mã như hia, hài, nón, áo, gương, lược, được gói trong túi nhỏ xinh xắn.
Vàng mã trong lễ đình gồm tiền vàng, quần áo giấy, nhà cửa giấy và các vật dụng tượng trưng cho thần linh. Trong lễ hội, ban tổ chức chuẩn bị cả lễ chay và lễ mặn để dâng lên các ban thờ khác nhau; đồ chay đặt ở vị trí cao hơn hoặc phía trước, đồ mặn đặt ở mâm phía dưới hoặc ban thờ riêng.
Còn một điều cần nhớ khi đình có phối thờ ban Phật: chỉ dâng hoa tươi, trái cây, trà, oản; tuyệt đối không đặt lễ mặn và không dâng vàng mã tại ban Phật. Ngoài ra, không dâng trái cây có gai nhọn, quả mọc sát mặt đất, quả vị quá cay đắng, hoa mùi quá hắc hay hoa giả lên ban thờ đình.

Trình tự dâng lễ và thắp hương
Đến đình, đừng vội thắp hương ngay. Theo trình tự, người dân lễ thần Thổ Địa, Thủ Đền trước tiên, bước này gọi là trình lễ; người chủ trì tiếp tục cáo lễ với thần linh, xin phép bắt đầu buổi lễ tại đình. Trình tự hành lễ chung khi đến đình được ghi lại gọn: dâng hương ngoài sân, vào bái yết chính điện, đọc văn khấn, tĩnh tâm tuần hương, lễ tạ, rồi hạ lễ gọn sạch.
Sau đó sắp xếp lễ vật lên ban thờ gọn gàng, ngay ngắn, dâng bằng hai tay cẩn trọng, tránh làm đồ thờ cúng rơi xuống đất; đặt lễ xong mới thắp hương. Đến lúc khấn, nên thỉnh ba hồi chuông.
Về hương, nên thắp số nén lẻ như 1, 3, 5, 7 nén; khi thắp, hai tay chắp lại đưa lên ngang trán vái ba vái rồi cắm hương bằng hai tay. Cách thắp hương tại đình, các nguồn ghi không giống nhau. Có nơi thắp từ trong ra ngoài, gian giữa trước, các ban hai bên sau; có nơi châm hương từ ngọn nến trên ban thờ rồi cắm vào bát hương, vái lạy ba lạy trước ban thờ chính; lại có nơi nói châm từ lư hương ngoài sân vào đến ban chính. Vậy nên hỏi người giữ đình hoặc theo nếp sẵn có của đình ấy, quan trọng là lòng thành.
Văn khấn tại đình làng đọc xong, lui ra chờ hương cháy được khoảng hai phần ba nén rồi mới hạ lễ, trong thời gian chờ giữ im lặng, giữ không gian trang nghiêm.
Người đi lễ quên chờ hương tàn mà hạ lễ ngay nên nhớ lại nếp cũ này.
Khi hạ lễ, hạ từ ban ngoài cùng vào đến ban chính. Hóa vàng mã thì hóa từng lễ một, bắt đầu từ lễ của ban thờ chính; hóa xong vái ba vái tạ lễ rồi thu dọn lễ vật ra về. Riêng đồ lễ ở bàn thờ Cô, thờ Cậu như gương, lược nên để nguyên trên bàn thờ hoặc gom vào nơi đặt riêng, không đem về.
Văn khấn đình làng ba miền
Lễ đình làng không giống nhau ở ba miền. Bắc Bộ giữ hội làng truyền thống với mâm cỗ mặn thịnh soạn xôi gà, lợn quay, đội tế nam quan, nữ quan, đọc sớ chữ Nôm và rước kiệu Thần Hoàng. Trung Bộ có lễ Thu tế, Xuân tế; văn khấn ở đây vừa hướng về Thành Hoàng được sắc phong, vừa tri tự các bậc tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ, tức những người mở đất, mở nghiệp của làng.
Nam Bộ có lễ Kỳ Yên với mâm cúng tam sên. Người Bắc theo gia đình vào Nam sẽ thấy đình ở đây mở lễ Kỳ Yên với mâm tam sên thay cho cỗ xôi gà, lợn quay của quê Bắc. Khác biệt ấy chỉ cho thấy mỗi vùng giữ một nếp riêng, không có ai đúng ai sai.
Cần phân biệt lễ và tế: lễ là nghi thức cúng theo lịch trình hàng tháng như lễ sóc mùng 1, lễ vọng rằm, Xuân tế, Thu tế, Hạ điền, Thượng điền, Thường tân; còn tế là nghi lễ chỉ thực hiện vào dịp hội làng, gồm tế Xuân và tế Thu. Người đọc khấn cá nhân ngày thường và chủ tế trong hội làng vì thế làm hai việc khác nhau.
Hội làng còn có một lệ riêng: muốn vào hội phải làm lễ nhập tịch trước, và từ ngày nhập tịch đến ngày hội, cả làng phải thực hiện kiêng kỵ, nhất là không được có tang lễ; nếu làng có người chết, phải an táng kín đáo hoặc quàn xác qua thời gian hội làng rồi mới được phát tang. Lệ khắt khe ấy cho thấy buổi tế ở đình được coi trọng đến mức nào.

Trang phục và kiêng kỵ
Trang phục khi đi đình làng cần lịch sự, kín đáo, sạch sẽ; tránh quần short, váy ngắn, áo hai dây, áo hở lưng; màu sắc nhã nhặn, không lòe loẹt. Vào lễ, nên kiểm tra lại trang phục và chỉnh trang lễ vật một lần nữa. Tham gia lễ đình làng còn cần giữ trật tự và giúp giữ vệ sinh khu vực đình.
Về giờ hành lễ, buổi sáng sớm của ngày hội chính là thời điểm không gian linh thiêng, thanh tịnh nhất; có nơi dẫn khung giờ sáng sớm 5h-7h hợp cầu quốc thái dân an, trưa 11h-13h hợp nghi lễ cộng đồng, chiều 15h-17h dành cho người có việc riêng, nhưng quan trọng nhất vẫn là lòng thành.
Riêng người được chọn đọc văn khấn đình làng trong ngày hội lớn phải đạt ba điều: là bậc cao niên, đức độ, có uy tín trong làng; gia đạo bình an êm ấm, tuyệt đối không trong thời gian chịu tang; giữ thân tâm chay tịnh. Cụ thể hơn, từ ba đến bảy ngày trước ngày hành lễ, người này phải giữ mình cho sạch và kiêng sinh hoạt vợ chồng. Bài văn khấn thường do người am hiểu văn hóa truyền thống trong làng đảm nhiệm. Vì thế, một người đang chịu tang trong gia đình thường nhường việc đọc khấn cho người khác trong họ, theo tục kiêng người chịu tang chủ trì lễ.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.