Phong tục
Phân tích tiếng cười trong truyện cười Việt Nam nghiêng về tiếng chê
Tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam không phải một thứ: có lúc cười để chê, có lúc cười để khen. Phân tích tiếng cười trong truyện cười Việt Nam cho thấy tiếng chê chiếm ưu thế, và qua đó đọc được quan niệm đúng sai của người xưa.
Kể chuyện Trạng Lợn khoe của, người nghe chỉ cười khẩy. Kể chuyện Trạng Quỳnh lừa quan phủ để lấy công lý cho dân nghèo, tiếng cười lại pha chút khâm phục. Cùng là truyện cười, sao lúc nghe như chế giễu, lúc lại như ngợi ca?
Câu hỏi ấy không phải chỉ trẻ con mới đặt ra; không ít người lớn cũng chưa từng để ý.
Muốn trả lời, phải đi vào phân tích tiếng cười trong truyện cười Việt Nam: xem người xưa khen ai, chê gì, và vì sao họ chọn cách cười thay vì nói thẳng. Vậy trong kho truyện ấy, tiếng khen nhiều hơn hay tiếng chê nhiều hơn?
Hai mặt của một tiếng cười
Truyện cười là truyện dân gian tự sự ngắn gọn, kết cấu chặt, kết thúc bất ngờ, kể những sự việc xấu, trái tự nhiên để gây cười, nhằm giải trí và phê phán. Nghe qua tưởng chỉ để mua vui. Tuy nhiên, người xưa kể chuyện ở quán nước, trong giờ nghỉ giữa mùa gặt, và mỗi lần cười là một lần bày tỏ thái độ trước điều vừa nghe.
Người nghiên cứu văn học dân gian chia tiếng cười tâm lý xã hội trong truyện cười thành hai loại: tiếng cười tán thưởng bày tỏ niềm vui, sự yêu mến; tiếng cười phê phán bộc lộ sự khinh ghét, sự phủ nhận. Cười ở con người vừa là phản ứng sinh lý, vừa là phản ứng tâm lý, nên cười nhạt, cười khẩy, cười mỉa mai, cười nhạo là những thái độ khác nhau, khó gộp vào một thứ niềm vui chung chung.
Cái đáng cười phát ra từ mâu thuẫn bên trong: cái xấu cọ vào cái đẹp, hình tượng lệch khỏi ý niệm, cái sống động bị thay bằng cái máy móc.2 Chính mâu thuẫn ấy khiến người nghe bật cười. Tùy người bị đem ra làm trò là ai mà tiếng cười hướng về chê hay khen. Vì thế, truyện cười vừa là tiếng cười giải trí sau lao động mệt nhọc, vừa ngầm phê phán thói hư tật xấu, gửi gắm bài học.
Chức năng xã hội của tiếng cười còn đi xa hơn thế. Nó có thể mang tính châm biếm và là phương tiện để chỉ trích các vấn đề xã hội, chính trị hay văn chương; cũng có thể là công cụ phản kháng hoặc biểu lộ sự bất đồng.1 Người xưa không đứng ra răn dạy kẻ tham quan. Họ dựng một tình huống để kẻ ấy tự lột trần, rồi để tiếng cười của người nghe làm phần còn lại.
Nguồn gốc của tính châm biếm ấy nằm ở mạch văn hóa thương cho đòn của người Việt: một kiểu ứng xử giàu tính nhân bản, tư duy cụ thể nhưng không trực diện, thiên về nói lấp lửng, nói vòng vo. Ca dao cũng theo cách ấy, dùng tiếng cười để chế giễu thầy bói, thầy cúng lợi dụng mê tín kiếm tiền.
Chính vì thế mà một truyện chê sự khoe khoang lố bịch, một truyện khen sự mưu trí của kẻ yếu, cả hai đều gọi chung là truyện cười.
Tiếng phê phán chiếm ưu thế
Nếu phải gọi tên một tiếng cười chủ đạo của kho tàng, đó là tiếng cười phê phán. Truyện cười dân gian chủ yếu dựa vào tiếng cười để phê phán, châm biếm, đả kích cái xấu xa, còn mua vui giải trí là phần kèm theo.3 Giải trí là cái lối cửa, còn khen chê mới là cái nhà.
Sự nghiêng về phê phán thể hiện rõ nhất ở nhóm truyện kết chuỗi, vốn nở rộ vào thời kỳ phong kiến suy tàn, khoảng giữa thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XIX, tiêu biểu là hai chuỗi truyện về Trạng Lợn và Trạng Quỳnh.3 Theo tiêu chí kết cấu, nhóm này chia làm hai. Nhóm có nhân vật trung tâm là đối tượng của tiếng cười phê phán, như Trạng Lợn.2 Nhóm có nhân vật trung tâm được ca ngợi, thán phục vì dũng cảm, mưu trí đấu tranh chống cái xấu, cái ác, như Trạng Quỳnh.2
Chưa ai đếm được chính xác mỗi kiểu cười chiếm bao nhiêu phần trăm kho tàng, nên câu trả lời ở đây nói về xu hướng chung chứ không phải con số. Nhưng các nhà nghiên cứu đều mô tả tiếng cười phê phán là loại cười chủ yếu trong kho truyện, và đó là cơ sở để trả lời câu hỏi mở đầu.
Ba mục đích của truyện cười cũng xếp phê phán lên trên giải trí. Bậc một là tiếng cười mua vui giải trí, kèm phê phán nhẹ nhàng thói xấu của người bình dân như các giai thoại về Bác Ba Phi, hay các truyện Tay ải tay ai, Tam đại con gà.2 Bậc hai là tiếng cười phê bình giáo dục, chê thói hư tật xấu như Hội sợ vợ, Lợn cưới áo mới.2 Bậc ba là tiếng cười đả kích, vạch trần cái ác có tính bản chất của giai cấp thống trị, như Quan huyện thanh liêm, Thầy đồ liếm mật, cùng hệ thống truyện Trạng Quỳnh.
Càng lên cao trong ba bậc, đối tượng bị đem ra càng lớn: từ thói khoe của, sợ vợ, đến vua chúa, quan tham thối nát.
Truyện Lợn cưới, áo mới là ví dụ tiêu biểu cho bậc phê bình. Hai anh chàng khoe của, khoe danh, khoe tài, khoe chức tước với thái độ và ngôn ngữ quá mức, lố bịch, và tiếng cười ở đây chính là tiếng cười khẩy chỉ trích cái khoe khoang ấy. Truyện Anh trai cày và lão nhà giàu đả kích kẻ giàu có nhưng tham lam, bủn xỉn, đồng thời ngợi ca trí thông minh ăn miếng trả miếng của người dân lao động.
Truyện Ăn hơi cho thấy hai kiểu cười sống chung trong một tác phẩm: truyện chê thói lười biếng, sống dựa dẫm, đề cao lao động và tự lập, dùng nghệ thuật đối lập giữa chủ quán ngây ngô tham lam và quan huyện thông minh thấu tình đạt lý. Chủ quán tham lam bị cười, quan huyện khéo léo được khen; hai tiếng ấy cùng vang lên trong một câu chuyện.
Tiếng chê cũng không phải mạch riêng của một thể loại. Những câu hát châm biếm có điểm giống truyện cười ở chỗ đều đả kích, châm biếm thói hư tật xấu của con người và thói mê tín dị đoan trong xã hội; về nghệ thuật, cả hai đều dùng các hình thức gây cười như nói ngược, nói quá. Khi phân tích tiếng cười, người ta đang đọc một mạch chung của văn học dân gian: cười để chê, và chê bằng cách cười.

Tiếng tán thưởng vẫn có chỗ
Tiếng cười tán thưởng vẫn có chỗ đứng riêng. Trong nhóm truyện không kết chuỗi, truyện khôi hài lấy giải trí làm chính, không hoặc ít tính phê phán đả kích, như Ba anh chàng ngủ mê, Tay ải tay ai.3 Người nghe cười vì tình huống ngớ ngẩn, không phải vì muốn chỉ trích ai.
Trong khi đó, truyện trào phúng lại đả kích mạnh, tiêu biểu là Lạy cụ đề ạ, Phú hộ ngã sông, Nam mô boong; truyện tiếu lâm theo nghĩa hẹp thì mang yếu tố tục, gây cười mạnh mẽ.3 Ngay trong một nhóm kết cấu, tiếng cười vẫn chia làm ba nấc từ giải trí thuần túy đến đả kích gay gắt, và ranh giới giữa chúng nằm ở đối tượng bị đem ra cười.
Trạng Quỳnh là nơi tiếng khen lên tiếng rõ nhất. Nhân vật chính có trí thông minh, nhanh nhẹn, mưu trí; qua các tình huống, tiếng cười mang tính ca ngợi, tán thưởng và tinh thần dũng cảm dám đối đầu với cái ác. Cách nhân vật giải quyết tình huống vừa thông minh vừa châm biếm làm bộc lộ thứ tiếng cười vừa biểu dương, vừa phê phán. Đây là kiểu cười tán thưởng người ít quyền thế hơn thắng kẻ mạnh bằng trí chứ không bằng sức.
Nhưng muốn khen được, truyện vẫn phải có mâu thuẫn, có cái trái tự nhiên, nếu không sẽ không có tiếng cười mà chỉ có lời khen. Muốn ngợi ca Trạng Quỳnh, truyện phải dựng sẵn một quan tham cho Trạng lừa; muốn ngợi ca quan huyện trong Ăn hơi, phải có một chủ quán tham lam để quan trị. Tiếng khen trong thể loại này, xét cho cùng, phần lớn vẫn mượn đường chê để đi vào lòng người.
Văn học dân gian nhìn chung giáo dục tinh thần nhân đạo, tôn vinh giá trị con người và đấu tranh giải phóng con người khỏi áp bức. Tiếng cười tán thưởng chính là mặt tôn vinh ấy của kho tàng. Nhờ có nó mà tiếng chê trong truyện cười không bao giờ độc địa, mà luôn giữ được cái hậu của kẻ thương cho đòn.
Phân tích tiếng cười cùng con
Với gia đình trẻ hôm nay, truyện cười dân gian vẫn là chất liệu tốt để rèn đọc hiểu, diễn đạt và phân tích văn bản, đồng thời giúp trẻ nhìn nhận thói hư tật xấu một cách sinh động, giáo dục tư duy phê phán và thẩm mỹ. Truyện cười dân gian vốn ngắn, vui, tạo nên sức hấp dẫn trực tiếp, nên kể ở nhà chẳng cần chuẩn bị gì cầu kỳ.
Một tiết dạy chuyên đề truyện cười dân gian do cô Phạm Thị Hiền thực hiện tại lớp 8A6 đã cho thấy cách hướng dẫn học sinh nhận diện, gồm chỉ ra đối tượng bị phê phán và các thủ pháp gây cười như đối lập, phóng đại, chơi chữ, trào phúng.1 Bố mẹ hoàn toàn áp dụng cách ấy ở nhà. Kể xong truyện Lợn cưới áo mới, hỏi con xem hai anh chàng bị cười vì điều gì; kể xong truyện Trạng Quỳnh, hỏi con Trạng thắng kẻ quyền thế nhờ gì.
Câu hỏi đơn giản ấy chính là bài tập phân tích tiếng cười trong truyện cười Việt Nam thu nhỏ lại cho trẻ nhỏ. Khi con chỉ ra được ai bị chê, ai được khen, con đã nắm được điều cốt lõi của cả thể loại: tiếng cười của ông cha luôn có hướng, và hướng của nó nói lên quan niệm đúng sai của người xưa.
Người lớn cũng nên nhớ tiếng cười bật ra từ những vi phạm khi người nói hoặc người nghe thực hiện, tiếp nhận hành vi tại lời. Nghĩa là cái cười chỉ nảy đúng khi người nghe hiểu được cái lắt léo trong lời thoại. Vậy đừng vội giải thích ngay từ đầu truyện; cứ kể, để con tự bật cười, rồi mới trở lại hỏi vì sao con cười. Cái cười tự nhiên ấy chính là dấu hiệu con đã hiểu.
Thói quen để ý thái độ tiếng cười trong từng câu chuyện mới là điều một gia đình trẻ nên giữ lại từ kho tàng này. Biết mình đang cười khen hay cười chê, người kể và người nghe đều đã đi được nửa đường vào tâm thức của ông cha.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- CHUYÊN ĐỀ “MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM” CỦA HỌC SINH KHỐI 8 (melodious.edu.vn) ↩a ↩b
- Truyện cười Việt Nam (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c ↩d ↩e
- Truyện cười dân gian (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c ↩d