Sống & yêu thương
Những loài hoa tượng trưng cho tình yêu và ý nghĩa từng loài
Hoa hồng đỏ là loài hoa tượng trưng cho tình yêu rõ nhất; tulip, lan, ly, hướng dương nói tình cảm đang đẹp; tigon và tử la lan dành cho yêu thầm, cẩm chướng vàng dành cho lời từ chối. Cùng một bông hoa đổi nghĩa khi trao cho người yêu hay cho người thân thiết.
Hoa hồng đỏ, tulip, lan hay cẩm chướng vàng đều từng được chọn để nói thay lời yêu, nhưng mỗi loài chỉ nói đúng một câu chuyện. Người tặng thường chọn theo màu và theo thói quen, ít khi biết rằng cùng một bông hoa có thể mang nghĩa hoàn toàn khác nhau tùy người nhận và dịp trao.
Hỏi loài hoa tượng trưng cho tình yêu là loài nào, câu trả lời không gói trong một cái tên. Hoa hồng giữ vị trí đầu bảng, nhưng tulip, lan, ly, hướng dương, tử đinh hương cũng có chỗ đứng riêng; một nhóm khác lại chuyên nói những điều khó nói như yêu thầm, bị từ chối hay chia tay.
Hoa hồng và các sắc màu
Hoa hồng được mệnh danh là nữ hoàng của các loài hoa và là loài được ưu tiên nhất trong mọi dịp. Biểu tượng này bắt nguồn từ thần thoại Hy Lạp, khi hoa hồng gắn với nữ thần tình yêu Aphrodite, tức Venus trong cách gọi của người La Mã.3 Một bông hồng đỏ thắm thường được xem là lời tỏ tình nồng cháy nhất, ngắn nhất và cũng khó từ chối nhất.3
Màu sắc chia hoa hồng thành nhiều câu nói khác nhau.3 Hồng đỏ là tình yêu mãnh liệt, đam mê, tận tụy; hồng trắng là tình yêu thuần khiết, trong sáng, vĩnh cửu; hồng nhạt là sự ngọt ngào, cảm kích, một tình yêu nhẹ nhàng. Hồng tím nói về sự thủy chung, mối tình đầu và cảm giác sét đánh, xuất hiện từ thời Hy Lạp cổ.
Số lượng bông cũng thành một câu riêng. Bó 99 bông hồng đỏ mang thông điệp về một chuyện tình đẹp đẽ bất diệt, mỗi bông đại diện cho một thời kỳ của tình yêu. Người nhận một bó như thế hiểu rằng người tặng đang nói tới chặng đường dài, chứ không phải một buổi hẹn.
Riêng hoa hồng vàng là chỗ dễ hiểu lầm nhất. Theo quan niệm dân gian, hoa hồng vàng tượng trưng cho sự phản bội. Nhưng cách nhìn đó đã đổi. Hồng vàng nay nói thay tình bạn chân thành, vô tư, không vụ lợi, mang sự lạc quan và cả lời xin lỗi khi người tặng muốn hàn gắn một mối quan hệ sứt mẻ. Giữa những người thân thiết, nó không mang tính lãng mạn. Cùng một bó hoa, đặt trên bàn tiệc kỷ niệm ngày cưới hay trao cho người quen đã mười năm gắn bó, là hai câu chuyện khác hẳn nhau.
Hồng xanh không có trong tự nhiên, thường được nhuộm từ hồng trắng hoặc làm thành hồng vĩnh cửu dạng sáp, và được gán cho sự vĩnh cửu, bất diệt trong tình yêu. Hồng đen cũng hiếm: phần lớn là hoa trắng được nhuộm. Chỉ ở làng Halfeti của Thổ Nhĩ Kỳ có giống hồng đen mọc tự nhiên, nhờ đất và độ pH của nước ngầm thấm từ sông Euphrates. Hoa nở đỏ sẫm vào mùa xuân rồi phai thành đen vào mùa hè.1 Người địa phương xem đó là dấu hiệu của sự huyền bí, hy vọng, đam mê, nhưng cũng là điềm xấu.1
Ngôn ngữ hoa hình thành thế nào
Ngôn ngữ của các loài hoa, hay còn gọi là floriography, là cách truyền đạt thông điệp được mã hóa qua hoa và thảo mộc trong nhiều nền văn hóa.4 Cách chơi này phổ biến nhất vào thời kỳ Victoria của Anh, khi lời nói thẳng bị soi xét nên người ta gửi nhau hoa thay cho thư.
Trước đó, ở văn hóa Trung cổ và Phục hưng, hoa thường mang ý nghĩa đạo đức hơn là chuyện yêu đương.4 Trong tiếng Nhật, ngôn ngữ hoa gọi là hanakotoba.4 Mỗi thời kỳ đặt vào hoa một tầng nghĩa riêng, nên cùng một loài có thể được nhớ theo hai cách khác nhau.
Đến nay phần lớn ý nghĩa cũ đã bị lãng quên; chỉ vài quy ước còn sống trong thói quen mua hoa, như hồng đỏ ngụ ý tình yêu nồng nàn, hồng trắng tượng trưng cho sự tinh khiết.4 Vì thế người tặng nên nói thêm một câu khi trao hoa. Lời nói đi kèm giúp người nhận hiểu đúng, tránh cảnh bó hoa đẹp bị hiểu thành thông điệp khác.

Nhóm hoa nói tình cảm đang đẹp
Nhóm hoa dùng để bày tỏ tình cảm khi mọi thứ đang tốt đẹp khá rộng. Hoa hướng dương nói về sự lạc quan, cảm xúc tích cực, hạnh phúc và thủy chung; tặng hướng dương ngụ ý cả hai cùng hướng tới tương lai tốt đẹp và một mối quan hệ lâu bền.
Hoa tulip đỏ đại diện cho tình yêu nồng nàn và cam kết; tulip tím nói về sự huyền bí và lòng trung thành; cả nhóm tulip được xem như một lời tỏ tình. Hoa lan mang dáng sang trọng, thanh cao, lại nói về sự thủy chung, son sắt và lòng biết ơn. Lan trắng thanh khiết, lan tím là sự ngưỡng mộ và tôn trọng, còn lan hồ điệp là giống phổ biến nhất trong các dịp quan trọng.
Hoa ly, nhất là ly trắng, mang nghĩa tình yêu trong sáng, thanh cao, nói về sự hoàn mỹ và lòng trung thành, thường xuất hiện trong lễ cưới. Hoa mẫu đơn hay có mặt trong bó hoa cưới để cầu chúc cặp đôi ấm êm, may mắn, thịnh vượng. Hoa trà đại diện cho tình yêu bình dị và những cảm xúc chân thật.
Vài loài nhỏ hơn cũng có câu riêng. Tử đinh hương nở đầu tháng Hai, gắn với khởi đầu tốt đẹp và những rung động chớm nở. Loa kèn thể hiện lời nói ngọt ngào, tình yêu tự do, hợp với cặp mới yêu. Lưu ly, hay hoa quên tôi, nhắc rằng tình cảm vẫn còn dù thời gian trôi qua. Hoa sim tím gắn với chuyện tình e ấp và sự chung thủy của người con gái chờ chồng, loài cây quen thuộc khắp vùng trung du và núi thấp.
Nhóm nói về sự bền bỉ cũng đáng nhớ. Hoa cúc tượng trưng cho tình yêu bền bỉ: cúc đỏ như lời tỏ tình, cúc trắng là tình yêu không ồn ào, cúc vàng là sự ngưỡng mộ. Hoa cúc bất tử giữ nguyên màu sắc ngay cả khi hoa rơi, nói về tình yêu không mờ nhạt trước thử thách. Hoa sen đá tượng trưng cho mối quan hệ bền vững, thường được chọn tặng cô dâu trong ngày cưới.
Đọc thêm: Tình yêu thương là gì? Định nghĩa và cách thể hiện
Hoa của tình yêu đơn phương
Không phải chuyện tình nào cũng nói được bằng hồng đỏ. Nhóm hoa dành cho tình yêu không được đáp lại có hình dáng rất riêng, thường là hình trái tim. Hoa tigon có chùm hoa hình trái tim như chảy máu, tượng trưng cho tình yêu đơn phương, nỗi buồn và trái tim tan vỡ.
Hoa tigon có tên khoa học Antigonon leptopus, họ Rau răm, gốc từ Mexico; hoa mọc thành cụm 1–4 hoa, màu trắng chuyển sang hồng hoặc đỏ san hô, lá hình trái tim. Tại Mexico, loài này nói về trái tim tan vỡ, chia ly, đau khổ. Ở Việt Nam, tigon trắng thể hiện tình cảm trong sáng, thuần khiết, còn tigon hồng mang sắc thái ấm áp, nồng thắm hơn. Cây còn được gọi là hoa Hiếu Nữ, hoa trái tim, hoa tim vỡ.
Hai truyền thuyết giải thích cái tên. Chuyện Nhật Bản kể chàng trai yêu đơn phương đến chết, trên mộ mọc lên cây hoa tim chảy máu. Chuyện Việt Nam kể nàng Ti-gôn yêu chàng nghèo Pho-nin nhưng bị ép gả cho người giàu có, nàng chết dưới gốc cây cổ thụ, từ đó có giống hoa mang tên nàng.
Hoa tử la lan cũng có cánh hình trái tim, tượng trưng cho tình yêu mãnh liệt nhưng không được đáp lại, phù du vì hoa mong manh, tuổi thọ ngắn. Hoa huyết tâm, cùng họ với tigon, theo truyền thuyết bắt nguồn từ một hoàng tử tự đâm kiếm qua tim vì tình yêu không được đáp lại; loài hoa hình trái tim này nói thay nỗi đau của tình yêu đơn phương.
Hoa anh thảo muộn tượng trưng cho tình yêu thầm lặng, giấu kín. Hoa tử đằng với sắc tím lại nói về tình yêu bền chặt, vĩnh cửu ở Nhật Bản. Cách tặng cũng nhẹ nhàng: một nhánh tigon gửi kèm tấm thiệp vào dịp Valentine hay sinh nhật là cách bày tỏ tình cảm thầm kín mà không cần nói ra.

Hoa để từ chối khéo léo
Chiều ngược lại cũng có hoa. Hoa cẩm chướng vàng mang nghĩa tùy văn hóa và dịp tặng: ở một số nơi nó nói sự thất vọng, lời từ chối cay đắng trong chuyện lãng mạn, cũng có thể là cảm giác tội lỗi hay một lời xin lỗi. Vì thế nên tránh tặng cẩm chướng vàng trong dịp cầu hôn.
Đổi lại, tặng cẩm chướng vàng là cách từ chối một lời tỏ tình khéo léo, tinh tế, không cần nói thẳng. Người nhận hiểu ý mà câu chuyện không bị đẩy vào thế khó. Loài hoa này cũng thường xuất hiện trong trang trí tang lễ, bày tỏ sự cảm thông, an ủi, nên cần cân nhắc kỹ trước khi trao cho người vừa tỏ tình với mình.
Hoa lục bình vàng tượng trưng cho ghen tuông, phản bội, tình yêu bị từ chối. Đặt cạnh đó, Taj Mahal bên dòng sông Yamuna vẫn được xem là biểu tượng tình yêu bất diệt, nhưng trong ngôn ngữ hoa, sắc vàng của lục bình lại gắn với chuyện không vui. Hoa hồng đen cũng nằm trong nhóm này: nỗi buồn, mất mát, tình yêu bị ép buộc, không chân thành.
Loài hoa tượng trưng cho tình bạn tri kỷ
Chuyển sang tình bạn, những bông hoa ấy đổi hẳn nghĩa. Hoa hồng vàng nói thay tình bạn chân thành, vui vẻ, lạc quan, không mang tính lãng mạn, còn là cầu nối hàn gắn khi hai người giận nhau. Cẩm chướng vàng cũng vậy: gắn với tình bạn, nó nói hạnh phúc, sự quan tâm lẫn nhau, hỗ trợ và niềm vui.
Loài hoa tượng trưng cho tình bạn vì thế không cần quá cầu kỳ. Một bó hướng dương vàng rực cho người đang gặp chuyện buồn, một nhánh hồng vàng kèm lời xin lỗi sau trận cãi, hay bó cẩm chướng vàng cho người đã thân nhau nhiều năm: mỗi cách trao đều nói rằng mối quan hệ này đáng giữ. Ở Nhật Bản, cẩm chướng vàng còn là biểu tượng tình yêu ngọt ngào, nên khi trao cho người nước ngoài, người tặng nên nói rõ ý mình.

Chọn hoa sao cho đúng
Có vài điều thực tế nên biết trước khi ra cửa hàng. Cẩm tú cầu đẹp và được gán cho sự lãng mạn: màu tím nói về tình yêu sắt son, chung thủy, màu trắng là vẻ đẹp thuần khiết. Nhưng toàn thân cây đều có độc, độc nhất là hoa và lá; chạm vào có thể gây viêm da, ăn nhầm gây tiêu chảy, ói mửa, thở gấp, nặng hơn có thể hôn mê, co giật. Gia đình có trẻ nhỏ nên hạn chế cắm loài này trong nhà.2
Hồng xanh và hồng đen phần lớn là hoa nhuộm từ hoa trắng, nên nếu muốn món quà giữ được lâu, cách làm là hỏi người bán cách bảo quản. Với người mới quen, một nhánh tulip hay một bông hồng nhạt dễ nhận hơn bó hoa lớn. Hoa dừa cạn trắng tượng trưng cho sự trong sáng, thuần khiết và tình yêu vĩnh cửu, không bao giờ biến đổi hay phai mờ, hợp với người thích hoa nhỏ mà để được lâu.
Khi cần tìm loài hoa tượng trưng cho tình bạn để tặng thay cho hoa dành cho người yêu, hồng vàng và cẩm chướng vàng là hai lựa chọn dễ tìm, dễ hiểu ý. Còn khi muốn nói điều gì đó khó nói, cách chọn là đúng nhóm: tigon cho tình cảm chưa dám ngỏ, cẩm chướng vàng cho lời từ chối, hồng đỏ cho điều đã rõ ràng. Bó hoa chỉ thật sự nói được khi người tặng biết mình đang nói gì.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- Hoa hồng đen huyền bí ở Thổ Nhĩ Kỳ (infonet.vietnamnet.vn) ↩a ↩b
- Loại hoa được ví là biểu tượng tình yêu, thường được cắm trong nhà nhưng cực độc (cafef.vn) ↩
- Biểu tượng hoa hồng (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c
- Ngôn ngữ của các loài hoa (Wikipedia) ↩a ↩b ↩c ↩d