Chính tả
Co giãn hay co dãn? Cách viết đúng và nghĩa của “co giãn”
Co giãn hay co dãn? “Co giãn” là cách viết đúng chính tả, còn “co dãn” đang có tài liệu bác, tài liệu bênh. Từ này chỉ trạng thái co vào rồi giãn ra, từ sợi dây chun đến độ co giãn của cầu.
Co giãn hay co dãn? Câu trả lời không êm: một số tài liệu coi “co dãn” là từ sai hẳn, số khác lại bảo cả hai đều dùng được. Năm 1988, Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, quen gọi là Từ điển Hoàng Phê, ra mắt và từ đó trở thành nguồn tra cứu đáng tin mỗi khi người Việt phân vân về cách viết của một từ.
Bài này chọn “co giãn” làm cách viết chuẩn, giải nghĩa từ, chỉ ra vì sao người viết hay nhầm và đưa ví dụ để bạn đối chiếu. Dọc bài cũng trả lời luôn câu hỏi anh em của nó: co giãn hay co giản đúng chính tả?
Co giãn hay co dãn: từ nào đúng?
Trả lời trước cho gọn: co giãn là cách viết đúng chính tả. Còn co dãn bị nhiều tài liệu coi là từ sai, vì ghép “co” với “dãn” lại thì không ra nghĩa nào rõ ràng trong tiếng Việt.
Trang ngoisaogiadinh.vn khẳng định thẳng “co dãn” là từ viết sai, không có nghĩa. Trang palada.vn lại cho rằng cả “co giãn” lẫn “co dãn” đều là từ viết đúng, đều dùng được, không có sự phân biệt nào trong cách dùng. Trang ligru.com cũng đứng về phe cả hai đều đúng: theo trang này, mỗi người quen một cách, có người quen nói “thư giãn”, có người quen “dãn”, và cả hai từ được tìm kiếm ngang nhau. Cho tới nay chưa có bộ từ điển uy tín nào phân xử dứt điểm chỗ vênh này.
Thú vị hơn: ngay trang khẳng định “co dãn” là sai, danh sách ví dụ vẫn ghi “tính co dãn” của quần áo, của băng gạc y tế, ngay sau lời khẳng định đó. Chứng tỏ hai cách viết quấn lấy nhau chặt đến mức chính người viết cũng khó tách rời.
Nhìn vào bảng đối chiếu dưới đây thì thấy rõ thế đứng của từng cách viết. “Co giãn” không bị ai chê. “Co dãn” có một luồng bênh, một luồng bác. “Co giản” thì cả hai luồng đều xếp vào diện viết nhầm.
Cũng cần nói thêm cho rõ: “co giãn” có mặt trong bộ từ điển do Hồ Ngọc Đức soạn và hai bộ từ điển song ngữ; các sách này ghi “co giãn”, “giãn nở”, “thư giãn”. Một bộ từ điển trực tuyến khác có ghi “co dãn”. Trong từ điển của Hồ Ngọc Đức, “giãn” được định nghĩa là “như dãn”, nên “dãn” còn gặp như một cách viết cũ. Văn viết hiện nay dùng “giãn”.
Vì sao hai cách cùng tồn tại? Vì “co” là động từ chỉ việc thu gọn vào, thu nhỏ bớt. Còn “giãn” hay “dãn” đều chỉ việc vật thể tăng lên về độ dài hoặc thể tích mà khối lượng không thay đổi; riêng “dãn” còn có nghĩa là trở lại trạng thái bình thường, không còn bị co hay căng thẳng. Nghĩa hai bên gần nhau, nên người viết thấy cách nào cũng xuôi tai.
| Cách viết | Luồng quan điểm thứ nhất | Luồng quan điểm thứ hai |
|---|---|---|
| co giãn | Đúng chính tả, dùng phổ biến | Đúng, dùng được |
| co dãn | Sai, không có nghĩa | Đúng, dùng được |
| co giản | Sai, viết nhầm | Sai, viết nhầm |
Co giãn nghĩa là gì
“Co giãn” là động từ chỉ trạng thái co vào rồi giãn ra của một vật thể hay một hiện tượng nào đó. Vật bị tác động thì co lại, hết tác động thì trở về dạng cũ.
Ví dụ dễ thấy nhất là ở đồ vật quanh nhà. Cây cung có sự co giãn theo lực kéo của người sử dụng.3 Cao su có đặc tính đàn hồi và co giãn. Cây cầu cũng co giãn theo thời tiết. Vải thun 4 chiều có tính co giãn cao.
Trong đời sống, sợi dây chun co giãn linh hoạt; lối đánh co giãn giúp triệt tiêu sức mạnh đòn đánh của đối thủ; học cách co giãn cuộc sống để luôn cảm thấy thoải mái. Ở nghĩa rộng này, từ mang theo sự hoạt bát và lạc quan: linh động và co giãn theo mọi thứ giúp ta bớt khó chịu khi mọi việc không vừa lòng.
Sang kinh tế học, độ co giãn của cầu theo giá được ký hiệu ED, đo bằng trị tuyệt đối của thương số giữa phần trăm thay đổi của cầu và phần trăm thay đổi của giá.2 Cách phân loại cũng rõ ràng: cầu co giãn nhiều khi ED > 1, co giãn đơn vị khi ED = 1, co giãn ít khi ED < 1, hoàn toàn không co giãn khi ED = 0. Bên cung có tính co giãn của mức cung theo giá, viết tắt PES, đo mức độ đáp ứng của lượng cung hàng hóa hoặc dịch vụ trước sự thay đổi giá của nó.3
Ngoài ra, từ còn dùng cho sinh học (co giãn gân cốt, co giãn cơ), vật lý (sự co giãn của chất rắn, chất lỏng, chất khí khi nhiệt độ thay đổi) và chuyện thường ngày (kế hoạch chi tiêu bị co giãn). Chữ “giãn” cũng sống động trong tin tức: cả nước từng quen cụm từ giãn cách xã hội, Hà Nội nhiều năm bàn chuyện giãn dân ra khỏi nội đô để chấn chỉnh đô thị. Ai hỏi “co giãn là gì” thì câu trả lời gọn nhất là: co vào rồi giãn ra, và nghĩa ấy kéo được sang cả cái cầu lẫn cái ví.
Ảnh minh họa được tạo bằng AI

Vì sao hay nhầm dãn và giãn
“Dãn” và “giãn” là hai từ đồng âm, chỉ khác nhau ở chữ cái đầu d và gi, nên khi nói gần như không phân biệt được, khi viết thì rất dễ lẫn.
Trong tiếng Việt, lỗi lẫn lộn phụ âm đầu là lỗi chính tả hay gặp nhất, gồm các cặp s/x, ch/tr, r/d/gi, l/n. Nhóm r/d/gi nằm trong số các phụ âm đầu dễ nhầm vì âm gần giống nhau, cần phân biệt rõ về âm vực và cách phát âm.
Phần lớn lỗi đến từ giọng vùng miền. Tiếng Việt có ba vùng phương ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, tạo ra khác biệt phát âm và dùng từ, dẫn tới lỗi chính tả vùng miền. Người Hà Nội không phân biệt tr với ch, s với x nên dễ nhầm khi viết. Người miền Trung không phân biệt thanh hỏi với thanh ngã nên dễ nhầm cả khi nói lẫn khi viết. Người miền Nam cũng đọc lẫn hỏi với ngã. Đặc điểm phát âm khác với phát âm chuẩn chính là nguyên nhân dẫn đến cách viết sai chính tả.
Riêng cặp co giãn, co dãn, nguyên nhân được ghi là sự lẫn lộn trong cách đọc và cách viết của người miền trong: nhiều người phát âm “co giãn” hay “co dãn” thành “co giản” nên khi viết cũng nhầm theo. Mạng xã hội làm nốt phần còn lại: người trình độ không cao đăng bài cho nhiều người đọc, lỗi cứ thế được nhân rộng.
Đọc thêm: Rõ rệt hay rõ dệt? Từ nào đúng chính tả và “rõ rệt” nghĩa là gì
Co giản cũng sai
Hỏi “co giãn hay co giản đúng chính tả” thì câu trả lời dứt khoát hơn nhiều: “co giản” sai. “Giản” xuất hiện trong “giản đơn”, “giản dị”, “giản lược”, nghĩa là giảm bớt, lược bớt; nghĩa ấy không liên quan gì tới “co” là thu gọn, thu nhỏ.
Nguyên nhân đã nói ở mục trên: phát âm miền trong lẫn “giãn” thành “giản”, mạng xã hội nhân rộng. Cũng vì “co” và “giản” đều gợi sự nhỏ lại, bớt đi, nên người viết không để ý cũng thấy “co giản” tưởng như xuôi tai. Nhưng tra kỹ thì chỉ “co giãn” đứng vững được trong văn viết. Gặp “co giản” trong bài của mình, bạn sửa lại ngay, đừng chần chừ.

Các cặp từ cùng nhóm
Cùng nhóm r/d/gi còn có cặp giãn nở, dãn nở. Theo Từ điển Hoàng Phê của Viện Ngôn ngữ học, “giãn nở” là từ đúng chính tả, còn “dãn nở” là từ sai. “Giãn nở” nghĩa là sự tăng độ dài hoặc thể tích của một vật mà khối lượng không đổi, dùng trong toán học và khoa học tự nhiên.
Trang vanvn.net phân biệt nghĩa hai từ khá rõ: “dãn” là động từ chỉ sự làm thưa, làm khoảng cách rộng ra (dây chun bị kéo dãn, dãn da bụng, suy tim do cơ tim dãn nở); “giãn” là tính từ chỉ trạng thái thoải mái khi được tác động (cười lớn làm các nếp nhăn trên mặt giãn ra, đi lại cho gân giãn cốt). Cũng trên trang này, “dãn nở” không có nghĩa rõ ràng, không được dùng trong ngữ cảnh thông thường, gặp thì có thể là từ sai chính tả.
Cùng nhóm d/gi còn có cặp dàn giáo và giàn giáo: cách viết đúng là “giàn giáo”, giàn treo để dựng xây dựng, còn “dàn giáo” là viết nhầm.
Vài quy tắc phân biệt phụ âm đầu khác cũng đáng nhớ. Chữ S không đứng trước các vần oa, oe; chỉ chữ X mới đi được với các vần này. Chỉ X láy âm được với các âm đầu khác, S thì không. L đứng được trước âm đệm, N thì không; đứng đầu một từ láy, L láy âm được với các âm khác, N thì không.
Đọc thêm: Chân tình hay trần tình đều đúng, chỉ trân tình là sai chính tả
Mẹo viết đúng chính tả
Chưa có mẹo nhớ riêng cho cặp co giãn, co dãn, nên dùng cách chung: đọc nhiều tài liệu uy tín, tra từ điển khi không chắc, tự đọc lại bài sau khi viết, ghi chép lại lỗi sai thường gặp, tìm hiểu ngữ âm để viết đúng phụ âm, vần, thanh điệu. Mẹo chính tả vốn là những cách giản tiện, dễ nhớ do các nhà ngôn ngữ đặt ra, giúp tìm ra cách viết đúng nhanh nhất mà không cần mở từ điển.
Chọn từ điển cũng phải chọn. Đã có những cuốn kém chất lượng với định nghĩa sai nghiêm trọng, nhiều cuốn mạo danh Viện Ngôn ngữ học.4 Chỗ tra đáng tin là bộ từ điển do Viện này biên soạn, bản quen gọi là Từ điển Hoàng Phê, xuất bản năm 1988. Nghề làm từ điển tiếng Việt cũng lâu đời: từ điển song ngữ Việt-Bồ-La ra đời từ thế kỷ 17, còn bộ từ điển của Taberd in năm 1838 được xem là dấu mốc định hình chữ quốc ngữ.
Cách kiểm tra tự động thì đơn giản: tách văn bản thành từng từ bằng thư viện rồi so sánh với từ điển. Từ nào không có trong từ điển thì khả năng sai càng cao. Muốn tra nhanh, bạn dùng ô Kiểm tra chính tả của trang. Nếu hay lẫn d với gi, đọc thêm Chuyên mục Chính tả và bài quy tắc phân biệt d, gi và r.
Còn một chi tiết đáng nhớ: trong từ điển của Hồ Ngọc Đức, “giãn” được định nghĩa là “như dãn”, nghĩa là dấu vết của cách viết cũ vẫn còn đó, nhưng văn viết hôm nay đã chọn “giãn”.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Nguồn tham khảo
- Có nên tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT khi Đà Nẵng giãn cách xã hội? (vov.gov.vn)
- Độ co giãn của cầu (Wikipedia) ↩
- Tính co giãn của mức cung theo giá (Wikipedia) ↩a ↩b
- Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học) (Wikipedia) ↩
- Từ điển Việt–Bồ–La (Wikipedia)