Học & lớn lên
Tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời và thời gian hoàn vốn
Theo số liệu của EVN công bố tháng 10/2020, cả nước có gần 50.000 dự án điện mặt trời mái nhà đang vận hành với tổng công suất gần 1.200 MWp. Con số đó cho thấy việc tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời đã có đủ dữ liệu thực tế để người nhà tham khảo trước khi xuống tiền.
Năng lượng mặt trời mái nhà là hệ thống pin quang điện lắp trên mái hoặc tường nhà, biến ánh sáng Mặt Trời thành điện phục vụ sinh hoạt. Nguyên lý dựa trên hiệu ứng quang điện: photon đập vào electron trong tấm pin, làm electron chuyển động và tạo thành dòng điện. Điện một chiều đó được bộ biến tần đổi thành điện xoay chiều để dùng trong nhà hoặc đưa lên lưới chung. Một tấm pin đơn lẻ chỉ đủ cấp điện cho một trạm điện thoại công cộng, nên muốn nuôi cả căn nhà phải ghép nhiều tấm thành dãy.6
Ở Việt Nam, điện mặt trời tăng trưởng rất nhanh: từ 86 MW năm 2018 lên khoảng 16,5 GW vào cuối năm 2020, đưa nước ta thành quốc gia có công suất lắp đặt lớn nhất Đông Nam Á tính đến năm 2019. Lý do các gia đình đổ xô lắp đặt khá đơn giản. Hệ thống giúp giảm 30–70% chi phí tiền điện, phần điện dư có thể bán lại cho EVN, còn tấm pin có tuổi thọ thiết kế 25–30 năm. Nhưng trước khi gọi thợ, việc tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời cho đúng công suất mới là bước quyết định hệ thống thu tiền nhanh hay chậm.
Bảng giá theo công suất
Giá một hệ thống phụ thuộc trước hết vào công suất, tức khả năng phát điện của cả dãy pin, đo bằng kilowatt đỉnh (kWp). Muốn tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời sát thực tế, gia đình nên đối chiếu vài bảng giá thay vì chỉ tin một báo giá duy nhất. Với hộ gia đình dùng hệ hòa lưới, bảng giá tham khảo phổ biến như sau: hệ 3 kW khoảng 35–50 triệu đồng, phát 300–450 kWh mỗi tháng; hệ 5 kW khoảng 55–75 triệu đồng, phát 500–750 kWh; hệ 6 kW khoảng 65–90 triệu đồng, phát 600–900 kWh; hệ 10 kW khoảng 95–140 triệu đồng, phát 1.000–1.500 kWh. Nguồn khảo giá khác đưa mức 3 kWp khoảng 45–55 triệu đồng và 5 kWp khoảng 70–85 triệu đồng, chênh nhau do thương hiệu thiết bị và phạm vi thi công.
Chọn công suất bao nhiêu cho vừa? Các đơn vị lắp đặt khuyên chọn hệ 3 kWp cho hộ nhỏ, 5–7 kWp đủ cho gia đình 4–6 người, còn 10 kWp trở lên dành cho cửa hàng, xưởng hoặc hộ tiêu thụ điện lớn. Với doanh nghiệp, giá rơi về 8,5–10 triệu đồng mỗi kWp; hệ 20 kWp khoảng 260–320 triệu đồng, hệ 50 kWp cho nhà xưởng khoảng 600–750 triệu đồng. Quy mô càng lớn, đơn giá mỗi kWp càng giảm. Riêng lắp đặt cho hộ gia đình hiện chưa có suất đầu tư chính thức nào được công bố. Người nhà vì vậy phải dựa vào bảng giá của các doanh nghiệp và mức 13–16 triệu đồng mỗi kWp mà ngành điện đưa ra năm 2020 để đối chiếu báo giá.
Bên trong tổng mức đầu tư, mỗi bộ phận chiếm một tỷ lệ riêng. Tấm pin là phần đắt nhất, chiếm 45–55% tổng chi phí, giá năm 2025 phổ biến 3,5–6 triệu đồng mỗi kWp tùy công nghệ và thương hiệu. Kế đến là bộ biến tần, chiếm khoảng 15–25% tổng mức đầu tư, giá khoảng 2,5–4 triệu đồng mỗi kW; loại hybrid đắt hơn 15–30%. Khung giàn và vật tư phụ trợ trung bình 1,2–1,8 triệu đồng mỗi kWp, nhân công lắp đặt khoảng 800.000–1.500.000 đồng mỗi kWp.
Muốn dùng điện vào ban đêm hoặc lúc mất điện lưới, gia đình phải thêm pin lưu trữ. Phần pin này có thể chiếm 30–45% tổng chi phí của hệ hybrid, và khi đó chi phí hệ thống PV tại nhà tăng 30–50% so với ban đầu. Đổi lại, nhà vẫn có điện khi lưới đứt, điều mà hệ hòa lưới thuần không làm được vì lý do an toàn.
Một con số đáng ghi nhớ: theo tính toán của ông Nguyễn Quốc Dũng, trưởng ban kinh doanh EVN, hộ gia đình khoảng 100 m2 lắp hệ thống 10 kWp có suất đầu tư dao động 13–16 triệu đồng mỗi kWp. Thời gian thi công, đấu nối và bán điện cho EVN chỉ khoảng một tuần.1 Đây là mức suất được báo chí dẫn từ phía ngành điện, còn bảng giá trên thị trường của các doanh nghiệp tư nhân thì dao động rộng hơn tùy thời điểm.
Loại mái và bóng râm
Hai nhà lắp cùng công suất vẫn có thể chênh nhau vài chục triệu đồng, và thủ phạm thường nằm trên mái nhà.
Mái tôn phẳng dễ thi công nên chi phí thấp nhất. Mái ngói dốc tốn nhân công hơn vì phải bắc giàn cẩn thận để không vỡ ngói. Mái bê tông cần hệ nâng khung riêng, phát sinh thêm vật tư. Còn mái kém chắc hoặc mái cũ phải gia cố trước khi lắp, tổng chi phí lại đội lên nữa, chủ yếu qua phần nhân công vốn phổ biến ở mức 800.000–1.500.000 đồng mỗi kWp. Vị trí địa lý cũng góp phần vào hóa đơn: vùng sâu, vùng xa, hải đảo có chi phí vận chuyển và nhân công cao hơn nội thành, trong khi vùng bức xạ tốt như Phú Thọ, Vĩnh Phúc cho sản lượng cao hơn mặt bằng chung miền Bắc.
Bóng râm là kẻ rút ruột sản lượng mà mắt thường dễ xem nhẹ. Hệ thống bị che khuất bởi bóng cây hoặc nhà cao tầng giảm 10–30% sản lượng, và sản lượng giảm thì thời gian thu tiền kéo dài tương ứng. Vì vậy, đơn vị thi công nghiêm túc đều khảo sát mái vào giờ nắng để đo bóng đổ theo mùa, chứ không dừng ở một buổi trưa mùa hè.

Tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời từ hóa đơn điện
Cách chắc chắn nhất để tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời là bắt đầu từ hóa đơn tiền điện của chính nhà mình, vì hóa đơn cho biết nhà tiêu thụ bao nhiêu và ở những khung giá nào. Trình tự gồm bốn bước.
Trước tiên, cộng tổng số kWh tiêu thụ mỗi tháng từ vài hóa đơn gần nhất để lấy mức trung bình, tránh bị con số mùa hè bật điều hòa hoặc mùa đông đốt nước nóng làm lệch. Sau đó, chọn công suất hệ thống sao cho sản lượng dự kiến khớp với mức tiêu thụ: nhà dùng 500–750 kWh mỗi tháng thì hệ 5 kW là mức vừa, nhà dùng 2.000 kWh mỗi tháng phải tính tới hệ 10 kWp trở lên hoặc quy mô doanh nghiệp. Tiếp theo, nhân công suất với suất đầu tư của vùng và loại mái để ra tổng vốn, ví dụ một hệ 5 kWp với giá 70–85 triệu đồng ở miền Bắc. Bước cuối cùng không phải là chia cho số kWh mà là chia tổng vốn cho số tiền điện tiết kiệm được mỗi năm, để ra thời gian hoàn vốn; cách tính này sẽ làm rõ ở mục sau.
Với hệ hòa lưới, cơ chế vận hành khá thông minh: khi công suất pin nhỏ hơn nhu cầu, nhà nhận thêm điện từ lưới; khi pin phát nhiều hơn, phần dư đưa lên lưới; khi mất điện lưới, hệ thống tự động tách ra để bảo đảm an toàn cho thợ sửa điện. Chính cơ chế tự dùng trước, bán phần dư sau này khiến hai nhà lắp cùng công suất vẫn thu tiền khác nhau, tùy giờ giấc dùng điện của mỗi nhà.
Đọc thêm: Hiệu suất pin năng lượng mặt trời Việt Nam và công nghệ mới
Thời gian hoàn vốn năng lượng mặt trời Việt Nam
Muốn tính chi phí lắp đặt năng lượng mặt trời trọn vẹn, không thể bỏ qua thời gian hoàn vốn. Công thức gốc rất ngắn: thời gian hoàn vốn bằng tổng vốn đầu tư ban đầu chia cho số tiền điện tiết kiệm hoặc thu về mỗi năm. Ba yếu tố quyết định phép chia này là tỷ lệ tự dùng điện ban ngày, giá điện lưới của EVN, cùng vị trí lắp đặt và mức bóng râm che mái. Giá lưới càng cao, mỗi kWh mặt trời thay thế càng đáng tiền, thời gian thu tiền càng ngắn.
Các mức hoàn vốn thực tế chênh nhau khá nhiều theo thời điểm và vùng miền. Tại khu vực Phú Thọ, Vĩnh Phúc, thời gian hoàn vốn thường dao động 4–6 năm nhờ bức xạ tốt so với mặt bằng miền Bắc. Ông Hoàng Mạnh Tân, Giám đốc Công ty CP Phát triển năng lượng Sơn Hà, cho biết hai năm trước thời điểm ông phát biểu, hoàn vốn ước tính 10–12 năm. Đến nay mức này đã giảm còn 5–6 năm, nhờ công nghệ pin nâng hiệu suất 20% trong khi giá thành giảm tương ứng.3 Phía doanh nghiệp lắp đặt đưa mức trung bình 3–5 năm tùy công suất và mức sử dụng; riêng hộ dùng nhiều điện ban ngày có thể thu hồi trong 2–3 năm. Những con số này cần đối chiếu thận trọng vì đến từ bên bán thiết bị.
Điểm đáng suy ngẫm nhất nằm ở việc so sánh hệ hòa lưới với hệ hybrid. Thêm pin lưu trữ làm tổng chi phí tăng 30–50%, nên thời gian hoàn vốn thường kéo dài hơn thay vì ngắn đi; đổi lại, nhà có điện dùng ban đêm và cả lúc mất lưới. Bảng dưới đây minh họa bằng hai phương án cùng công suất 5 kWp.
Lấy ví dụ cụ thể: hộ gia đình dùng 2–3 triệu đồng tiền điện mỗi tháng lắp hệ 5 kWp hybrid với vốn 80–100 triệu đồng, sản lượng 600–700 kWh mỗi tháng. Tính ở bậc điện cao, nhà tiết kiệm khoảng 1.800.000 đồng mỗi tháng, tức khoảng 21.600.000 đồng một năm, hoàn vốn khoảng 4,5 năm. Với doanh nghiệp sản xuất dùng nhiều điện giờ cao điểm, giá điện có thể hơn 4.500 đồng mỗi kWh, thời gian hoàn vốn rút ngắn còn 3,5–4 năm.
Một trường hợp có thật khác là gia đình ông Nguyễn Đắc Thọ ở đường Lê Văn Sỹ, TP.HCM (thuộc Quận 3 cũ trước khi sáp nhập), lắp hệ 13 kW phát lên lưới 1.000–1.100 kWh mỗi tháng. Với giá bán ưu đãi 9,35 cent mỗi kWh, gia đình ông nhận 2,1–2,2 triệu đồng từ ngành điện hằng tháng. Trừ tiền điện tự dùng khoảng 1,5 triệu đồng thì còn dư 500.000–700.000 đồng mỗi tháng.1 Còn một hộ tại Hoàng Mai, Hà Nội đầu tư khoảng 100 triệu đồng cho hệ 5 kWp, mức mà nhiều gia đình thành thị dùng làm chuẩn so sánh báo giá.
| Tiêu chí | Hòa lưới | Hybrid |
|---|---|---|
| Chi phí hệ 5 kWp | 55–75 triệu đồng | 80–100 triệu đồng |
| Chênh lệch vốn | Mốc so sánh | Cao hơn 30–50% |
| Sản lượng tham khảo | 500–750 kWh/tháng | 600–700 kWh/tháng |
| Hoàn vốn tham khảo | 3–5 năm | Khoảng 4,5 năm |
| Dùng điện khi mất lưới | Không | Có |

Triển khai và thu tiền
Sau khi chọn được phương án, việc đấu nối với ngành điện hiện khá gọn. Đối tượng đăng ký bán điện mặt trời áp mái là tổ chức, cá nhân đang mua điện trực tiếp của đơn vị điện lực, đã lắp hệ thống và muốn bán phần điện dư; khi đăng ký cần cung cấp địa điểm, công suất dự kiến và mã khách hàng.4 EVN hỗ trợ lắp công tơ hai chiều và đã điện tử hóa toàn bộ thủ tục: khách gửi tin nhắn hoặc email, sau 2 ngày đơn vị điện lực liên hệ ký hợp đồng mua bán điện bằng phương thức điện tử.
Về dòng tiền ban đầu, một số đơn vị như CoCo Solar hỗ trợ trả góp 0% lãi suất qua thẻ tín dụng, giúp gia đình không phải dồn cả trăm triệu một lần. Câu chuyện giá bán điện thì đang trong giai đoạn chuyển đổi. Quyết định 13 từng quy định giá FIT 1.943 đồng mỗi kWh trong 20 năm cho các dự án hoàn thành trước ngày 31-12 cùng năm. Sau đó, dự thảo của Bộ Công Thương đề xuất mức 8,38 cent, tương đương 1.940 đồng mỗi kWh, thấp hơn 0,97 cent so với mức 9,35 cent theo Quyết định 11 trước đó.3 Dự thảo kèm quy định tỷ lệ tự dùng tại chỗ từ 70–90% và cho phép hệ thống tới 7–8 MWp đấu nối vào lưới dưới 35 kV. Vì mức giá cho phần điện dư của hệ tự sản tự tiêu chưa được chốt chính thức, ai có ý định đầu tư năng lượng mặt trời mái nhà nên xây phương án trên nền tảng tiết kiệm tiền điện tự dùng, coi khoản bán phần dư như lợi nhuận năng lượng mặt trời gia đình cộng thêm.
Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.
Hỏi đáp nhanh
Nhà dùng hệ hòa lưới, mất điện lưới thì còn điện không?
Không. Khi mất điện lưới, hệ hòa lưới tự động tách khỏi lưới để bảo đảm an toàn cho người sửa điện; muốn vẫn có điện trong lúc mất điện, gia đình cần lắp thêm pin lưu trữ theo dạng hybrid.
Nguồn tham khảo
- Điện mặt trời áp mái rất sôi động (tuoitre.vn) ↩a ↩b
- Sẽ bỏ giá FIT cố định cho điện mặt trời áp mái (dansinh.dantri.com.vn)
- Nhà đầu tư sốt ruột chờ giá điện mặt trời áp mái (vietstock.vn) ↩a ↩b
- EVN HANOI cung cấp mẫu đăng ký bán Điện mặt trời áp mái (infonet.vietnamnet.vn) ↩
- Năng lượng Mặt Trời (Wikipedia)
- Điện mặt trời (Wikipedia) ↩
Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn.