Chúc Mừng Năm Mới

Học & lớn lên

Lịch sử tiền sử là gì? Vì sao khảo cổ học là ngành quan trọng nhất

Lịch sử tiền sử là gì? Là khoảng thời gian trước khi chữ viết ra đời, không để lại một trang ghi chép nào, và toàn bộ câu chuyện ấy được khảo cổ học kể lại bằng chính những hiện vật đào được dưới lòng đất.

13 phút đọc

Trong lời nói thường ngày, nhiều người dùng hai từ “lịch sử” và “tiền sử” như một, cứ nhắc đến thời kỳ đồ đá là gộp chung thành quá khứ của nhân loại. Thực ra đó là hai giai đoạn khác nhau.5 Ranh giới giữa chúng là một phát minh của chính con người - chữ viết - chứ không phải biến cố chính trị hay thiên tai.

Câu hỏi lịch sử tiền sử là gì vì thế đáng được trả lời nghiêm túc, chứ không phải chuyện chữ nghĩa suông. Một học sinh học về thời kỳ đồ đá cũ sẽ không tìm thấy văn bản nào trong sách. Em ấy chỉ có ảnh chụp công cụ đá được khai quật và bản vẽ địa tầng. Còn đọc về triều đại phong kiến, em ấy cầm trên tay chính những trang do người đương thời viết lại.

Bằng chứng khác nhau, cách làm của người nghiên cứu cũng khác hẳn: bên này đọc chữ, bên kia đọc đất.

Lịch sử tiền sử là gì

Theo cách định nghĩa phổ biến, thời tiền sử là giai đoạn bắt đầu từ khi tông Người chế tác những công cụ đá đầu tiên, khoảng 3,3 triệu năm trước, và chấm dứt khi các hệ thống chữ viết được phát minh.3 Giai đoạn ấy không để lại ghi chép nào.3 Toàn bộ hiểu biết về nó phải rút ra từ hiện vật: công cụ đá, mảnh xương động vật, đồ gốm, tro bếp và các lớp đất đá chồng lên nhau trong lòng đất.

Trên phạm vi thế giới, các nhà nghiên cứu chia giai đoạn này thành những thời kỳ lớn theo loại công cụ con người sử dụng. Thời kỳ đồ đá thường được tính từ khoảng 2,5 triệu năm TCN và kéo dài đến 3000 TCN.2 Trong suốt thời gian ấy, con người sống chủ yếu bằng săn bắt và thu thập thực phẩm.2

Bên trong thời kỳ đồ đá có ba nấc thang.5 Đồ đá cũ bắt đầu từ khoảng 2,5 triệu năm trước, kéo dài đến khoảng 10.000 năm trước; con người khi đó sống bằng săn bắn và hái lượm, chưa có nghề nghiệp ổn định.2 Tiếp đó là đồ đá mới. Theo bảng niên đại ASPRO, nghề nông đầu tiên xuất hiện từ khoảng năm 10.200 TCN ở một số nơi thuộc Trung Đông, mở ra thời kỳ này; nó khép lại giữa 4500 và 2000 TCN. Đó cũng là lúc con người bắt đầu làm nông, chăn nuôi, định cư và dựng nên những ngôi làng đầu tiên.2

Ở Việt Nam, dấu tích của giai đoạn này nằm rải khắp đất: người cổ chế tác công cụ đá, mở mang nông nghiệp trồng lúa nước và hình thành những bộ lạc sơ khai. Một chi tiết cho thấy trình độ của họ vượt xa hình dung “người nguyên thủy lầm lũi”. Năm 2010, các mẫu xương động vật hóa thạch được gọt đẽo bằng công cụ đá được tìm thấy trong thung lũng Hạ Awash ở Ethiopia.5 Chúng cho thấy công cụ đồ đá cổ nhất từng được dùng có tuổi 3,4 triệu năm.5 Còn tại di chỉ Thác Hai, những mảnh đá dùng làm trang sức được khai quật cho thấy người thời ấy lo kiếm ăn nhưng cũng đã biết làm đẹp.

Các mốc niên đại trên không phải con số tuyệt đối. Ở Ai Cập, thời tiền sử được tính là chấm dứt vào năm 3100 TCN; ở New Guinea là khoảng năm 1900; ở Úc thường được lấy năm 1788. Cùng một khái niệm, mốc kết thúc lại dịch chuyển theo từng vùng đất.

Khái niệm ra đời từ đâu

Từ chỉ thời tiền sử có mặt trong văn bản in khá muộn: nó xuất hiện lần đầu trong tạp chí Foreign Quarterly Review vào năm 1836.3 Từ cuối thế kỷ 19, các nhà nhân chủng học và khảo cổ học người Anh, Đức và Scandinavia dùng niên đại địa chất để phân chia các giai đoạn của quá khứ nhân loại, đồng thời áp hệ thống ba thời đại cho thời tiền sử.3 Người chia thời đại đồ đá thành ba giai đoạn cũ, giữa và mới là John Lubbock, trong cuốn “Những thời đại tiền sử” năm 1865.5

Bản thân ngành đào đất tìm cổ vật cũng có lịch sử riêng. Herodotus, sống khoảng 484 đến 425 TCN, là học giả đầu tiên nghiên cứu khảo cổ có hệ thống qua bộ sách chín cuốn mang tên “Historiai”. Những địa điểm được khai quật sớm nhất gồm Stonehenge và các di tích cự thạch ở Anh, cùng hai thành phố cổ Pompeii từ năm 1748 và Herculaneum từ năm 1738. William Cunnington, sống từ 1754 đến 1810, được coi là cha đẻ của kỹ thuật khai quật hiện đại.4 Còn Augustus Pitt Rivers, khởi công khai quật từ thập niên 1880, là người đưa khảo cổ trở thành một khoa học hoàn chỉnh và được coi là nhà khảo cổ học thực thụ đầu tiên.

Còn ở Việt Nam, câu chuyện tiền sử được viết lại bằng chính đất của ta. Các di chỉ quan trọng thời đồ đá cũ gồm Đa Bút, Hạ Long; thời đồ đá mới có các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn, Mai Pha. Núi Đọ là di chỉ khảo cổ học thời đại đồ đá cũ, Mái đá Ngườm giữ địa tầng khảo cổ học cổ nhất Việt Nam, và di chỉ Thẩm Đán Chể là một trong những địa chỉ để nhìn tận mắt những lớp văn hóa chồng lên nhau. Văn hóa Đông Sơn thì bất kỳ người Việt nào cũng nhận ra ngay: đó là đỉnh cao của thời đại đồ đồng với những trống đồng nổi tiếng, định hình bản sắc giai đoạn cuối của thời tiền sử và đặt nền móng cho nhà nước Văn Lang, bên cạnh Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun.

Một cuốn sách cũ, kính lúp và kính đọc sách đặt cạnh chồng giấy buộc dây trên bàn gỗ cạnh cửa sổ sáng sớm
Ảnh minh họa

Khảo cổ học kể chuyện thay chữ viết

Khảo cổ học là ngành khoa học tìm hiểu hoạt động của con người trong quá khứ thông qua những gì họ để lại: vật tạo tác, kiến trúc, hiện vật sinh thái và phong cảnh văn hóa, từ khâu tìm kiếm, phục chế cho đến sắp xếp và nghiên cứu.4

Nói đơn giản: nơi nhà sử học đọc trang sách, nhà khảo cổ học “đọc” hố khai quật, và mỗi lớp đất là một trang.

Vai trò ấy đặc biệt lớn với tiền sử. Khảo cổ học giữ vai trò chính trong nghiên cứu xã hội nguyên thủy, từ thời đồ đá cũ cho đến khi chữ viết xuất hiện.4 Giai đoạn ấy chiếm tới 99% lịch sử nhân loại nhưng không có văn bản nào để nghiên cứu.4 Phạm vi của ngành này trải từ khi con người tạo nên công cụ đá đầu tiên ở Đông Phi cho đến vài thập niên gần đây, và không bao gồm cổ sinh vật học.4

Vì không có ghi chép, việc xác định niên đại hiện vật trở thành chuyện sống còn, mà các kỹ thuật xác định có độ chính xác cao mới chỉ được phát triển từ thế kỷ 19.3 Trước đó, người ta chỉ biết xếp thứ tự tương đối: lớp vật nằm sâu dưới đất thì cổ hơn lớp nằm trên. Khám phá 63 ngôi mộ cổ tại một di chỉ, cho thấy tục hỏa táng thời kỳ đồ đá mới, là ví dụ điển hình cho cách khảo cổ học rút ra cả tín ngưỡng từ xương tro và cấu trúc mộ.

Ngành này cũng không sống khép kín. Khảo cổ học dùng thành quả và tác động ngược lên nhiều ngành học như Nhân học, Lịch sử, Địa chất học, Ngôn ngữ học, Vật lý, Hóa học, Cổ sinh vật học.4 Tại Hoa Kỳ, nó được coi là một phân ngành của Nhân học; tại châu Âu, nó là một ngành khoa học riêng biệt.4

Đọc thêm: Diogenes sống trong lọ gốm và danh xưng nhà triết học điên rồ nhất lịch sử

Sự khác nhau giữa lịch sử và tiền sử

Sự khác nhau giữa lịch sử và tiền sử thể hiện rõ nhất ở loại bằng chứng mỗi ngành dựa vào. Lịch sử là nghiên cứu có hệ thống về quá khứ, tập trung vào những gì con người ghi lại bằng chữ viết, tức các sự kiện sau khi chữ viết được phát minh, gọi là lịch sử ghi chép. Thời kỳ trước đó là thời tiền sử, thường do ngành khảo cổ học đảm nhiệm; sang thế kỷ 20, các nhà sử học mới mở rộng phạm vi, quan tâm nhiều hơn đến quá khứ trước thời điểm chữ viết ra đời.

Trong giới nghiên cứu, nguồn văn tự được nhiều nhà phương pháp luận xem là “bà hoàng” của các nguồn. Nhà sử học Nguyễn Thế Anh cho rằng tài liệu viết là quan trọng nhất và đáng tin cậy nhất đối với nhà sử học. Nhà khảo cổ học thì khác: tài liệu của họ là đồ nghề, đồ dùng do kỹ xảo của con người trong quá khứ để lại. Nhưng ngay cả khi nguồn chữ viết dồi dào, các nguồn khác vẫn không thể thiếu; ở những nơi không có chữ viết, hiện vật và truyền miệng gánh việc tái tạo quá khứ. Quan hệ giữa khảo cổ học và lịch sử vì thế là quan hệ bổ sung nhau, chứ chẳng phải thay thế.

Hai hiểu lầm hay gặp cần gỡ ra. Thứ nhất, nhiều người nghĩ tiền sử là thời kỳ “thiên nhiên chưa có con người”; thực tế nó bao gồm cả hoạt động xã hội, tín ngưỡng và công nghệ của người cổ, từ mũi lao đến tục hỏa táng. Thứ hai, tiền sử không đồng nghĩa với sơ sử. Giai đoạn một nền văn hóa chưa phát triển chữ viết riêng nhưng được các nền văn hóa khác mô tả qua ghi chép được gọi là thời sơ sử.3 Những nền văn minh đầu tiên tự phát minh chữ viết và tự ghi lại quá khứ của mình gồm Sumer ở Lưỡng Hà, nền văn minh lưu vực sông Ấn và Ai Cập cổ đại; thời điểm đó loài người đang ở đầu giai đoạn đồ đồng.3

Một người đứng nghiêng bên cạnh tủ kính, bên trong bày nhiều bình gốm và mảnh đá trên nền vải xám
Ảnh minh họa

Từ lớp học đến di chỉ

Hiểu rõ lịch sử tiền sử giúp học sinh, sinh viên hình dung quá trình tiến hóa công nghệ và xã hội của loài người, đồng thời nâng cao ý thức bảo tồn di sản khảo cổ. Nghiên cứu Việt Nam thời tiền sử qua các hiện vật giúp hình dung rõ hơn đời sống, tín ngưỡng và tổ chức xã hội của cha ông, góp phần giáo dục thế hệ trẻ về lịch sử, lòng tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ các giá trị văn hóa, khảo cổ.

Ở phía cơ quan quản lý, mối liên hệ giữa nghiên cứu và bảo tồn được nói thẳng. Theo GS-TS Phạm Văn Đức, người từng giữ chức Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, khảo cổ học gắn chặt với hoạt động nghiên cứu, đánh giá các giá trị di sản văn hóa.1 Các nhà khoa học đã tư vấn cho cơ quan quản lý, địa phương tiến hành quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị di tích khảo cổ. Theo ông, công việc của ngành là lật tìm những thông điệp của cha ông từ quá khứ truyền tải qua di tích, di vật; những phát hiện mới giúp nhận thức rõ hơn lịch sử hình thành con người, dân tộc Việt Nam.

Nếu bạn đang theo các bài của chuyên mục Học & lớn lên, đây là một gợi ý học tập cụ thể: thay vì học thuộc bảng niên đại, hãy đọc một bản báo cáo khai quật hoặc thăm một di chỉ, rồi tự hỏi hiện vật ấy nói lên điều gì về người làm ra nó. Cách học này buộc người đọc đặt mình vào vị trí nhà khảo cổ, và từ đó sự khác nhau giữa lịch sử và tiền sử không còn là định nghĩa để thuộc, mà là hai cách nhìn quá khứ bằng hai loại bằng chứng khác nhau.

Đọc thêm: Xóa lịch sử vị trí GPS trên Android, iPhone và Facebook

Bắt đầu và kết thúc với vật cổ

Trong cuốn “Tiền sử người Việt” do Nxb Hồng Đức xuất bản năm 2020, tác giả Hà Văn Thùy có cách nhìn nghề rất gọn: với người làm khảo cổ, vật cổ là điểm khởi đầu cũng là điểm dừng; hiện vật cạn thì ngành học ấy không còn việc để làm. Câu ấy phân định rõ ranh giới giữa hai ngành. Nhà sử học có thể viết tiếp khi còn văn bản; nhà khảo cổ học dừng lại đúng chỗ hiện vật cạn.

Nhận định ấy cũng giải thích vì sao tiền sử và khảo cổ học gắn bó đến vậy. Thời tiền sử không có chữ viết, nên hiện vật là tư liệu duy nhất; khi một hố khai quật không còn đào ra gì mới, mạch chuyện của giai đoạn ấy tạm khép lại cho đến lần đào tiếp theo. Nếu không có các mảnh đá được khai quật tại những di chỉ như Thác Hai, người ta sẽ khó hình dung thời kỳ đồ đá mới đã đi qua đất Việt như thế nào. Thời kỳ ấy mở ra từ khoảng năm 10.200 TCN ở Trung Đông.

Nói cách khác, mảnh đá trang sức nằm trong hố đất ấy chính là trang sách duy nhất mà thời tiền sử để lại, và người đọc nó là nhà khảo cổ cầm xẻng, không phải sử gia cầm bút.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Hỏi đáp nhanh

Thời tiền sử kết thúc vào năm nào?

Không có một mốc chung cho cả thế giới. Chữ viết chỉ xuất hiện từ khoảng 5000 năm trước và phải mất thêm hàng nghìn năm nữa mới phổ biến, nên mỗi vùng có mốc riêng: Ai Cập là năm 3100 TCN, New Guinea khoảng năm 1900, còn Úc thường được lấy năm 1788.

Hệ thống ba thời đại đồ đá, đồ đồng, đồ sắt có áp dụng ở mọi châu lục không?

Không. Hệ thống này không dùng được ở những nơi luyện kim được du nhập đột ngột qua tiếp xúc với các nền văn hóa Á-Âu, như châu Đại Dương, Australasia, phần lớn châu Phi hạ Sahara và một số khu vực châu Mỹ.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com