Chúc Mừng Năm Mới

Chính tả

Dùng dằng hay vùng vằng đều đúng chính tả, khác nhau ở nghĩa

Nhiều người tưởng chỉ một trong hai từ mới viết đúng, nên tra “dùng dằng hay vùng vằng” mà vẫn chưa yên tâm. Từ điển tiếng Việt ghi cả hai, chỉ khác nhau ở nghĩa: một từ là lưỡng lự, một từ là giận dỗi.

14 phút đọc

Gõ “dùng dằng hay vùng vằng” vào ô tìm kiếm thường là lúc đang viết dở một câu rồi khựng lại, không rõ mình đang tả người ta chần chừ hay đang tả người ta hờn dỗi. Hai từ đều viết đúng, từ điển tiếng Việt có cả hai mục từ, nhưng nghĩa khác nhau và không thay thế được cho nhau.

Chỗ dễ sai không nằm ở con chữ. Nó nằm ở nghĩa. Viết “vùng vằng” khi muốn nói lưỡng lự, hoặc viết “dùng dằng” khi muốn tả cơn giận dỗi, đều là dùng sai từ. Người đọc thấy câu lệch ngay, dù câu không sai một dấu chính tả nào.

Dùng dằng và vùng vằng là hai từ hoàn toàn khác nhau, cần phân biệt để tránh nhầm lẫn. Chúng chỉ giống nhau ở vần, còn nghĩa thì lệch hẳn sang hai bên: một bên là sự chần chừ kéo dài, một bên là phản ứng bật ra tức thì.

Cách nhớ nhanh nhất nằm ở chữ đầu: vùng vằng bắt đầu bằng chữ v, gợi đến vội vàng, vụt vằng; dùng dằng bắt đầu bằng chữ d, gợi đến do dự, dừng lại. Nắm được hai chữ ấy là nắm được gần như toàn bộ khác biệt giữa hai từ.

Dùng dằng hay vùng vằng: từ nào đúng?

“Dùng dằng” và “vùng vằng” đều viết đúng, từ điển tiếng Việt ghi nhận cả hai. Không có chuyện một từ là từ viết sai cần loại bỏ, cũng không có chuyện từ này là cách viết gốc còn từ kia là biến thể hỏng. Tra theo chiều ngược lại, vùng vằng hay dùng dằng, đáp án cũng vậy: cả hai đều là từ đúng.

Vì thế, câu hỏi dùng dằng hay vùng vằng đúng chính tả thật ra có hai phần. Phần thứ nhất về mặt chữ: đúng cả hai. Phần thứ hai về mặt dùng: phải đặt đúng nghĩa, vì hoán đổi hai từ cho nhau là sai. Một bài soát lỗi chỉ nhìn mặt chữ sẽ bỏ qua đúng cái lỗi hay gặp nhất ở cặp từ này.

Hai từ còn khác nhau về từ loại. “Vùng vằng” được xếp là tính từ hoặc động từ, “dùng dằng” là động từ hoặc trạng từ. Khác từ loại thì cũng khó lòng thay nhau trong câu, nhất là ở những câu cần từ đứng sau làm rõ mức độ, kiểu “rất”, “cứ”, “mãi”.

Bảng dưới đây tóm phần khác biệt cốt lõi để liếc nhanh khi đang viết.

So sánh nhanh hai từ cùng vần nhưng khác nghĩa
Từ Nghĩa chính Sắc thái Ví dụ
dùng dằng Lưỡng lự, chưa quyết Nhẹ, chần chừ Anh ta dùng dằng trước khi ký hợp đồng
vùng vằng Bực bội, giận dỗi Mạnh, phản kháng Cô bé vùng vằng bỏ đi khi bị mẹ nhắc

Dùng dằng nghĩa là gì

“Dùng dằng” là động từ chỉ thái độ lưỡng lự, chưa quyết định nên đi hay nên ở. Nói gọn hơn: đứng giữa hai lựa chọn mà chưa chịu nhích về bên nào.

Sắc thái của từ này nhẹ. Nó thiên về do dự, chần chừ, không dứt khoát khi hành động. Đang dùng dằng thì không giận ai, không phản kháng gì; chỉ là chưa muốn quyết, và cái chưa muốn ấy kéo dài thành một trạng thái, có khi hàng tuần, hàng tháng.

Ví dụ sát đời: “Anh ta dùng dằng trước khi ký vào bản hợp đồng”. “Họ dùng dằng ở ngã ba đường, chưa biết chọn hướng nào”. “Cô ấy dùng dằng mãi không chịu rời bữa tiệc”. Ba câu, ba cảnh khác nhau, nhưng người trong câu đều đang đứng yên tại chỗ chứ không bỏ đi.

Trong sinh hoạt hằng ngày, từ này hiện ra ở những chỗ rất quen: “Tôi hay phải dùng dằng giữa hai sản phẩm khi đi mua sắm khiến tôi mất nhiều thời gian”. Hoặc: “Sếp tôi thường hay dùng dằng khi phải đối mặt với những quyết định lớn khiến cuộc họp kéo dài”. Chuyện tình cảm cũng vậy: “Dùng dằng chưa muốn kết thúc chuyện tình này”. Đi chợ, họp công ty, chia tay, cả ba đều là chỗ từ này đứng vừa.

Hiểu dùng dằng là gì thì mới thấy vì sao ca dao chọn đúng từ ấy: “Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt, Đi thì cũng dở ở không xong”. Câu ấy tả cái thế đứng giữa đường, đi không đành mà ở cũng không yên, và cái dở nằm ngay ở chỗ không dứt được.

Báo chí cũng dùng từ này ở những ngữ cảnh nặng hơn: “Sống mòn trong sự dùng dằng điện hạt nhân”, “Dùng dằng ‘số phận’ trụ sở hỏa xa Sài Gòn”, “Em chồng dùng dằng trong việc dự báo hỷ của chúng tôi”. Ba câu ấy cho thấy từ này dùng được cho cả chuyện nhỏ trong nhà lẫn một dự án treo nhiều năm.

Đặt hai câu cạnh nhau sẽ thấy rõ chỗ lệch. “Cô ấy dùng dằng mãi không chịu rời bữa tiệc” tả một người còn ngồi lì ở ghế, còn “Cô ấy vùng vằng mãi không chịu rời bữa tiệc” lại vẽ ra cảnh hất tay, đẩy ghế, quay lưng. Cùng một việc chưa chịu đi, hai từ cho ra hai hình ảnh khác hẳn.

Trang này viết “dùng dằng” khi câu nói về sự lưỡng lự, và viết “vùng vằng” khi câu nói về thái độ giận dỗi. Đó là chọn theo nghĩa, không phải tuyên bố một từ là chuẩn chung cho mọi trường hợp.

Ảnh minh họa được tạo bằng AI

Căn phòng vắng bên cửa mở, chiếc ghế gỗ nhỏ đặt túi vải và áo khoác, hai chiếc dép nằm trước ngưỡng cửa, phố ngoài trống
Căn phòng vắng người với cửa mở, một chiếc ghế gỗ nhỏ đặt túi vải và áo khoác, hai dép lê nằm gần ngưỡng cửa, ánh sáng chiều ngoài đường.

Vùng vằng nghĩa là gì

“Vùng vằng” tả thái độ bực bội, giận dỗi, phản ứng mạnh mẽ bằng lời nói hoặc hành động. Hình ảnh nằm bên trong từ là vung tay vung chân, lúc lắc thân mình cho người khác thấy mình không bằng lòng.

Sắc thái ở đây mạnh và dứt khoát, thường nghiêng về phía tiêu cực. Từ này hay được chọn khi mô tả cơn tức giận, sự phản kháng. Nó không dừng ở vẻ mặt mà thường kéo theo một động tác: hất tay, quay lưng, đẩy món đồ ra.

Ví dụ: “Cô bé vùng vằng bỏ đi khi bị mẹ nhắc nhở”. “Thằng bé vùng vằng khi không được mua đồ chơi”. “Anh ấy vùng vằng trả lại món đồ và không nói thêm câu nào”. Câu nào cũng có một vật thể bị đẩy ra khỏi tay.

Thêm vài câu khác cho thấy từ này đi với động tác: “Cô gái đó chẳng thèm nói gì thêm, chỉ vùng vằng bỏ đi”. “Động một tí là vùng vằng, chẳng nói chẳng rằng gì cả”. “Mấy bạn nhỏ thường hay vùng vằng bất chấp mọi thứ xung quanh”. Người lớn cũng dùng được, nhưng hay gặp nhất vẫn là cảnh trẻ con.

Trên mặt báo, từ này hay gắn với hình ảnh cầu thủ: “Tevez vùng vằng đòi bỏ Man City”, “vùng vằng đòi về”. Hoặc: “Cùng tịt ngòi nhưng Messi cười còn Ronaldo vùng vằng”, “Ronaldo vùng vằng trong trận thua của Bồ Đào Nha”. Cách viết ấy đặt cạnh một người đang cười để làm nổi cái hờn của người kia, và chỉ vùng vằng mới làm được việc đó.

Đặt cạnh “cáu”, “hờn”, “dỗi” thì vùng vằng nặng hơn, vì nó có hành động đi kèm chứ không dừng ở vẻ mặt. Còn đặt cạnh “bực” thì vùng vằng lại cụ thể hơn, vì bực chỉ nói trong lòng, còn vùng vằng đã bật ra ngoài.

Đọc thêm: Khoác tay hay khoát tay đều đúng chính tả, mỗi từ một nghĩa

Mẹo nhớ chữ d và chữ v

Chữ v mở đầu “vùng vằng” dễ liên tưởng tới vội vàng, vụt vằng, cũng là những từ chỉ động tác nhanh và mạnh. Chữ d trong “dùng dằng” thì nằm cùng nhóm với do dự, dừng lại, đều nói tới sự chậm và cái khựng lại. Nhớ theo hai nhóm ấy là đủ, khỏi cần tra từ điển giữa lúc đang viết.

Cách kiểm tra bằng nghĩa: thử thay từ trong câu bằng “do dự”. Nếu câu vẫn đúng ý thì chỗ đó phải viết dùng dằng. Thử thay bằng “vung tay, hờn dỗi” mà khớp thì phải viết vùng vằng. Đang gõ dở câu trên điện thoại, thử vậy nhanh hơn tra cứu nhiều.

Hai hình ảnh giúp nhớ lâu. Đứa trẻ bị mắng, hất tay mẹ ra rồi bỏ đi: đó là vùng vằng. Người đứng trước quầy sách, cầm lên đặt xuống, không biết mua hay không: đó là dùng dằng. Một cảnh có người thứ hai bị đẩy ra, một cảnh chỉ có một người đứng một mình. Khác nhau ở chỗ có ai bị tác động hay không.

Một mẹo nữa cho người hay viết vội: đọc to câu lên. “Vùng vằng” nghe bật ra, có nhịp mạnh. “Dùng dằng” nghe dài và lơ lửng, đúng như cái nghĩa chần chừ của nó. Cách này hiệu quả với người viết nhiều mà không có thời gian soát từng chữ, nhất là khi phải trả lời tin nhắn gấp.

Việc còn lại chỉ là đặt từ vào đúng cảnh: câu có người đang cân nhắc thì dùng dằng, câu có người đang hờn thì vùng vằng.

Một người đàn ông áo xanh ngồi trên ghế thấp bên bàn gỗ có ấm chén, sổ và khăn, sau lưng cửa mở ra sân nắng có hai người ngồi
Một thanh niên mặc áo sơ mi xanh ngồi trên ghế thấp bên bàn gỗ có ấm chén và tập giấy, phía sau cửa mở có hai người ngồi ngoài trời nắng.

Chín cặp câu đúng sai

Dưới đây là chín cặp câu cùng một cảnh, một câu viết đúng và một câu viết sai, để đối chiếu khi đang viết. Câu sai không sai chính tả mà sai ở chỗ đặt từ không khớp nghĩa.

Cảnh gia đình: “Mẹ giục mãi mà nó vẫn dùng dằng chưa chịu đi học” là đúng; “Mẹ giục mãi mà nó vẫn vùng vằng chưa chịu đi học” là sai, vì câu chỉ nói sự chần chừ chứ không có cơn giận nào để mà vùng vằng.

Cảnh giận dỗi: “Thằng bé vùng vằng khi không được mua đồ chơi” là đúng; “Thằng bé dùng dằng khi không được mua đồ chơi” là sai, câu mất hẳn cái hờn, chỉ còn một đứa trẻ đứng ngẩn ra.

Cảnh công việc: “Sếp tôi thường hay dùng dằng khi phải đối mặt với những quyết định lớn” là đúng; “Sếp tôi thường hay vùng vằng khi phải đối mặt với những quyết định lớn” là sai, nghe như sếp đang nổi giận với cả cuộc họp.

Cảnh mua sắm: “Tôi hay phải dùng dằng giữa hai sản phẩm khi đi mua sắm” là đúng; “Tôi hay phải vùng vằng giữa hai sản phẩm khi đi mua sắm” là sai, không ai giận dỗi cái kệ hàng.

Cảnh ký giấy tờ: “Anh ta dùng dằng trước khi ký vào bản hợp đồng” là đúng; “Anh ta vùng vằng trước khi ký vào bản hợp đồng” là sai, vì câu không nói anh ta bực ai.

Cảnh trả lại món đồ: “Anh ấy vùng vằng trả lại món đồ và không nói thêm câu nào” là đúng; “Anh ấy dùng dằng trả lại món đồ và không nói thêm câu nào” là sai, vì hành động trả đồ ở đây dứt khoát, không phải sự chần chừ.

Cảnh trường lớp: “Cô giáo hỏi, cậu học trò dùng dằng mãi mới đứng lên phát biểu” là đúng; “Cô giáo hỏi, cậu học trò vùng vằng mãi mới đứng lên phát biểu” là sai, vì cậu bé không hề tỏ thái độ với cô.

Cảnh ngày Tết: “Chị dâu dùng dằng chưa muốn về quê chồng sớm” là đúng; “Chị dâu vùng vằng chưa muốn về quê chồng sớm” là sai, câu sau nghe như chị đang hờn cả nhà chồng.

Cảnh chia tay: “Dùng dằng chưa muốn kết thúc chuyện tình này” là đúng; “Vùng vằng chưa muốn kết thúc chuyện tình này” là sai, vì câu nói về cái chưa nỡ dứt chứ không phải cái giận.

Đọc thêm: Rõ rệt hay rõ dệt? Từ nào đúng chính tả và “rõ rệt” nghĩa là gì

Lỗi nhầm d với gi

Một lỗi khác hay đi kèm: nghe âm gi ở đầu nên viết “dùng dằng” thành một dạng mở đầu bằng gi. Dạng ấy không có trong từ điển; chỉ cách viết bằng chữ d là đúng chính tả. Người nói giọng Nam đọc gi và d na ná nhau, tay viết nhanh lại dễ đánh nhầm ngay ở chữ đầu, nên càng cần để ý chỗ này.

Nguyên nhân hay nhầm lẫn là do cách phát âm sai giữa các vùng miền. Cùng một chữ, mỗi nơi đọc một kiểu, rồi khi viết lại bê nguyên cách đọc ấy vào mặt giấy. Người nghe quen tai thì hiểu, nhưng người đọc trên màn hình thì chỉ thấy một chữ lạ.

Lỗi d với gi thuần là chuyện mặt chữ, không dính gì tới nghĩa của từ. Cùng nhóm ấy có cặp “dơ bẩn” và “giơ bẩn”. Cặp “giành giật” cũng hay bị viết nhầm phụ âm đầu thành d. Hễ thấy một từ bắt đầu bằng d mà nghe như gi, hoặc ngược lại, thì nên tra lại trước khi gửi bài hay gửi tin nhắn cho khách.

Một người đàn ông ngồi quay lưng lại bên bàn gỗ tối, hai tay ôm bát trà còn nóng, cạnh đó là một cuốn sổ cũ
Một người ngồi quay lưng bên bàn gỗ tối, hai tay ôm tách trà đang bốc khói, cạnh cuốn sổ đóng, ánh sáng từ cửa sổ.

Các cặp từ dễ nhầm khác

“Trau chuốt” là cách viết đúng; nhiều người nghe âm đầu mà viết thành ch, và cách viết ấy từ điển không ghi. “Giành giật” cũng vậy, chỉ cách viết bằng gi là đúng, nghĩa là tranh giành, cướp đoạt. Hai cặp này khác nhau ở phụ âm đầu, và cả hai đều chỉ có một cách viết đúng.

Điểm chung của nhóm này là lỗi nằm ở con chữ, không nằm ở nghĩa. Với dùng dằng và vùng vằng thì ngược lại: hai từ đều đúng, cái cần cân là nghĩa. Mục Chính tả của trang có thêm các cặp khác để tra khi cần, còn quy tắc phân biệt v với d và gi nằm ở một bài riêng.

Người hay viết sai phụ âm đầu thường mắc cùng một kiểu ở rất nhiều từ, không riêng gì cặp này. Thay vì soát từng chữ, đọc lại cả một đoạn sẽ nhanh hơn, lại dễ thấy quy luật mình hay nhầm: có người lẫn d với gi, có người lẫn ch với tr, có người lẫn hỏi với ngã.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Hỏi đáp nhanh

Hai từ có thay thế cho nhau trong câu được không?

Không. Cả hai đều đúng chính tả nhưng khác nghĩa và khác cả từ loại: vùng vằng là tính từ hoặc động từ, dùng dằng là động từ hoặc trạng từ. Đổi chỗ cho nhau là nghĩa của câu thay đổi hẳn, có khi thành câu vô lý.

Viết “vùng vằng” có bị coi là sai chính tả không?

Không, đây là từ được từ điển tiếng Việt ghi nhận. Chỉ khi dùng nó để nói về sự lưỡng lự thì mới sai nghĩa, chứ bản thân cách viết không có gì phải sửa.

Dùng dằng hay dùng dằn?

Chỉ “dùng dằng” là cách viết có trong từ điển, nghĩa là lưỡng lự, chần chừ. “Dùng dằn” không phải một từ riêng; nếu muốn nói tới việc dằn vặt hay dằn lòng thì đó là từ khác, viết khác và nghĩa cũng khác.

Vững vàng hay vững vàn?

Chỉ “vững vàng” là cách viết đúng, nghĩa là chắc chắn, không lay chuyển. Cách viết “vững vàn” từ điển không ghi. Cặp này hay bị nhầm vì đọc nhanh thì âm cuối nghe gần giống nhau, nhưng mặt chữ chỉ có một lựa chọn.

Vùng vằng hay vùng giằng?

Chỉ “vùng vằng” là cách viết đúng. “Vùng giằng” là lỗi nhầm phụ âm đầu, cùng kiểu với việc viết “dùng dằng” thành dạng mở đầu bằng gi. Cả hai lỗi đều thuộc nhóm lẫn v, d và gi.

Kiểm tra chính tả

Kiểm tra chính tả tiếng Việt

chucmungnammoi.com