# Văn khấn Ông Hoàng Mười và nếp đi lễ tại đền Hưng Nguyên

> Ai sắm một chuyến đi lễ hay mâm lễ tại gia dâng Đức Thánh Hoàng Mười sẽ cần đủ thứ: lễ vật sắc vàng, bài văn khấn Ông Hoàng Mười theo từng mục cầu, trình tự dâng hương và điều kiêng kỵ.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/van-khan-ong-hoang-muoi>
- Chuyên mục: Phong tục
- Tác giả: Ban Phong tục
- Ngày đăng: 01/11/2026
- Chủ đề: Văn khấn Ông Hoàng Mười, Đền Ông Hoàng Mười, Sớ điệp, Ngày vía Ông Hoàng Mười, Tín ngưỡng Tứ phủ
- Thời gian đọc: 14 phút

---

Người ta lũ lượt đến dâng Đức Thánh Hoàng Mười xin lộc công danh, thi cử, buôn bán. Phần lớn trong số đó đến với một tờ sớ và một bài văn khấn Ông Hoàng Mười chép từ đâu đó, đọc lên mà chưa rõ mình đang lạy ai, khấn gì, trình tự ra sao.

Bài này đi đủ con đường ấy: Ngài là ai, ba đền thờ Ngài khác nhau thế nào, sắm lễ ra làm sao, hai bài khấn nguyên văn theo từng mục cầu, trình tự dâng hương qua ba ban thờ và những điều nên tránh. Mỗi vùng, mỗi nhà có nếp riêng; chỗ nào chưa chắc, bài sẽ nói rõ đó là quan niệm hay truyền thuyết.

## Ông Hoàng Mười là ai

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt, Ông Hoàng Mười là một vị thánh thuộc phủ Địa, mang sắc vàng bản mệnh. Dân gian còn kính gọi Ngài là Cậu Mười hay Đức Thánh Hoàng Mười, nổi tiếng nhất ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh. Theo quan niệm dân gian, Ngài chuyên ban lộc về công danh, sự nghiệp, thi cử đỗ đạt và buôn bán thuận lợi, nên nhiều người tìm đến xin lộc đầu năm.

Gốc tích Ngài có nhiều dị bản. Một lời kể cho biết Ngài là con thứ mười của Đức Vua cha Bát Hải Động Đình, giáng trần giúp dân giúp nước. Tên “Mười” mang ý nghĩa tròn đầy, viên mãn, tài đức vẹn toàn.[1] Dị bản lưu truyền nhiều nhất kể Ngài đầu thai thành tướng Nguyễn Xí dưới thời vua Lê Thái Tổ, giúp diệt giặc Minh, sau đó được giao quản lý đất Nghệ An. Một hôm thuyền chìm trên sông Lam, tướng tịch hóa, dân lập đền thờ tưởng nhớ. Cũng có truyền thuyết gắn Ngài với Uy Minh Vương Lý Nhật Quang, con vua Lý Thái Tổ, hoặc tướng quân Lê Khôi, công thần cùng Lê Lợi.

Riêng phần thần tích lưu trong sắc phong thì rõ ràng hơn. Sắc phong đang lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho biết vị thần được thờ chính trong đền là nhân vật lịch sử có thật: một Thượng tướng quân họ Nguyễn, tên tự Duy Lạc, từng phò tá vua Lê, được phong Đô chỉ huy sứ.[1] Theo gia phả họ Nguyễn tại thôn Xuân Am, ông sinh năm Mậu Ngọ, mất ngày 12 tháng 2 năm Kỷ Mão.[1]

Dân gian gốc Nghệ An, Hà Tĩnh kể Ngài hiển linh độ thế, ban tài lộc, trí tuệ, công danh. Chỗ nào là lịch sử, chỗ nào là truyền thuyết, người đi lễ không cần phân xử. Giữ được lòng thành là chính.

## Ba đền thờ Ngài

Người ta thường nói chung “đền Ông Hoàng Mười”, nhưng thực ra có ba ngôi đền lớn thờ Ngài, mỗi đền gắn một dấu tích và một mục cầu nguyện riêng. Đền thờ chính tọa lạc ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, tỉnh Nghệ An, cách trung tâm thành phố Vinh chừng 7km về phía Tây. Đền được xây dựng từ năm 1634 thời Hậu Lê, từng bị phá hủy qua lịch sử, phục dựng lại năm 1995. Năm 2002, UBND tỉnh Nghệ An xếp hạng đền là Di tích Lịch sử, Văn hóa.[1]

Bên trong, đền lưu giữ 21 đạo sắc phong cùng bản thần tích viết bằng chữ Hán, và cả một hệ thống tượng pháp đáng giá. Khu đền gồm ba tòa điện Thượng điện, Trung điện, Hạ điện, cùng tam quan, tắc môn, đài trung thiên, lầu cậu, lầu cô. Chính điện thờ Quan Hoàng Mười.[1] Các vị được phối thờ bên cạnh gồm Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Tứ phủ, Song Đồng Ngọc Nữ, cùng hai nhân vật Lê Khôi và Quận công Trịnh Trung.

Đền Hưng Nguyên là nơi giữ phần mộ của Ngài, mạnh về cầu công danh, thăng quan tiến chức, nên thường được công chức, học sinh, sinh viên tìm đến. Bên kia sông Lam, đền Chợ Củi ở xã Xuân Hồng, tỉnh Hà Tĩnh là nơi Quan Hoàng Mười giáng trần lưu dấu tích, nổi bật hoạt động hầu đồng, thường đông giới thương nhân đến lễ. Hai đền nằm đối diện nhau qua hai bờ sông. Ngoài ra còn có đền Dinh đô Quan Hoàng Mười ở Hà Tĩnh, tương truyền là nơi Ngài ngự, còn đền Hưng Nguyên là nơi Ngài thác.[1]

Đi lễ đền nào là tùy hoàn cảnh và mục đích.

Nhiều người đi cả hai bờ sông trong một chuyến, coi như trọn vẹn một lần hành hương.

![Một người phụ nữ tóc ngắn đứng cúi đầu trước bàn thờ gỗ chạm khắc trong điện thờ, trên bàn có tượng](https://chucmungnammoi.com/covers/van-khan-ong-hoang-muoi-minh-hoa-1-q8muxj-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Mâm lễ và sắc vàng

Vì Quan Hoàng Mười thuộc phủ Địa, mang sắc vàng bản mệnh, nên lễ vật dâng Ngài ưu tiên tông màu vàng chủ đạo, từ hoa quả đến vàng mã. Mâm ngũ quả nên chọn trái cây vỏ vàng như bưởi diễn, xoài vàng, phật thủ, cam, dưa lưới. Hoa tươi dùng cúc vàng.

Mâm lễ dâng tại đền có thể gồm một mâm xôi gà, một chai rượu rót năm chén, một chai nước, tiền dương, nhang. Tiếp là một mâm sớ điệp, trầu cau, tiền quan, cùng một mâm vàng quan màu vàng năm dây. Riêng mâm thờ Quan Ngũ Hổ gồm dây vàng trắng, rượu năm chén, muối, gạo, năm quả trứng vịt rửa sạch và bó hoa. Cuối cùng là mâm hoa quả, trầu cau, tiền dương. Lễ mặn có thể gồm gà trống tơ luộc nguyên con, mỏ ngậm bông hoa hồng đỏ, xôi gấc đỏ hoặc xôi đỗ xanh. Không dùng thịt thú rừng hay đồ ăn chế biến sẵn có mùi nồng gắt.

Lễ mặn chỉ là tùy chọn. Muốn gọn, gia chủ có thể chỉ dâng lễ chay gồm hương, hoa, quả, oản, nước ngọt. Mâm cúng cơ bản tại gia gồm hương, hoa tươi, trầu cau, nước, rượu trắng, tiền vàng, mũ áo, nến, gạo, muối, bánh kẹo, thuốc lá, trầu têm cánh phượng, gà luộc hoặc heo quay, xôi chè.

Bày lễ tại gia, mâm mặn đặt ở phía dưới hoặc làm mâm phụ. Mâm ngũ quả, hoa tươi, oản vàng được đặt ở vị trí trung tâm, trang trọng nhất, kèm theo sớ điệp. Trước khi xếp mâm, nên lau mặt ban, bát hương bằng nước sạch đun sôi để nguội pha ngũ vị hương, hoặc nước gừng tươi, để tẩy uế. Thắp đúng ba nén nhang nếu bát hương nhỏ, hoặc năm nén; không bao giờ thắp số lượng chẵn.

Bộ vàng mã dâng Ngài gồm nón gõ, cờ, quạt, kiếm, ngựa giấy, quần áo sắc vàng, kèm tiền vàng mã và lá sớ điệp. Sớ điệp viết bằng chữ Nho hoặc chữ Quốc ngữ rõ ràng, ghi đủ họ tên, ngày sinh, địa chỉ và lời cầu xin cụ thể. Nên viết sẵn từ tối hôm trước ngày đi lễ.

## Bài khấn theo từng mục cầu

Dù khấn ở đền hay tại gia, văn khấn Ông Hoàng Mười thường theo một bố cục quen thuộc. Mở đầu là ba lần xưng danh Phật, sau đó lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật. Tiếp là kính lạy Đức Vua cha Bát Hải Động Đình, Tam Tòa Thánh Mẫu và chư vị Tứ phủ, rồi mới mời Quan Hoàng Mười giáng lâm chứng giám. Sau phần lạy, tín chủ xưng đủ họ tên, năm sinh, địa chỉ, ngày tháng làm lễ, trình lễ vật mình mang đến và đọc lời cầu xin. Người theo đạo Phật có bài khấn riêng khi đi đền, mở đầu nguyên văn bằng “Nam mô a di đà Phật” ba lần, rồi “Con lạy Thánh Hoàng Mười tối linh”. Ngoài ra còn có bài khấn nôm bái yết cửa quan Hoàng, tấu lạy tam vị đức vua cha, hội đồng thánh mẫu, đức thánh Trần triều, quan Hoàng Mười thủ phủ đồng đền, rồi trình ngày tháng, tên đệ tử, địa chỉ và lễ vật dâng lên.

Với người cầu công danh, có bài khấn xin lộc thăng tiến riêng, khấn “Con lạy quan Hoàng Mười trấn thủ đất Nghệ An”, cầu công danh thăng tiến, thăng quan, thăng cấp, gặp quý nhân phù trợ. Bài khấn cầu tài lộc và thăng tiến công danh mở đầu:

“Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) / Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. / Con kính lạy Tam Tòa Thánh Mẫu, các chư vị Tứ phủ, con kính lạy Quan Hoàng Mười giáng lâm chứng giám. / Tín chủ con tên là: \[Họ và tên\]… Sinh năm: \[Năm sinh\]… / Ngụ tại: \[Địa chỉ đầy đủ\]… / Hôm nay là ngày… tháng… năm… / Tín chủ con th…” .

Đoạn trích trên dừng ở giữa câu, đúng chỗ tài liệu lưu bài khấn này bị cắt. Phần còn lại, tín chủ nối theo mẫu chung đã nêu: trình lễ vật, đọc lời cầu xin về tài lộc, thăng quan tiến chức, gia đạo bình an, rồi cảm tạ khi xong. Bản đầy đủ nằm trong các tập Văn khấn cổ truyền Việt Nam lưu hành phổ biến.

Riêng học sinh, sinh viên hoặc phụ huynh cầu thi cử, điểm khác của bài khấn nằm ở phần tôn danh: mở đầu bằng lời kính lạy Đức Vua cha Bát Hải Động Đình trước cả Tam Tòa Thánh Mẫu, và người xưng danh là phụ huynh hoặc học sinh thay vì gia chủ. Bài khấn cầu thi cử đỗ đạt mở đầu:

“Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) / Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật. / Con kính lạy Đức Vua cha Bát Hải Động Đình, Tam Tòa Thánh Mẫu, cùng chư vị Tứ phủ. / Con kính lạy uy linh Quan Hoàng Mười hiển hách. / Tín chủ con tên là: \[Họ và tên phụ huynh hoặc học sinh\]… Sinh năm: \[Năm sinh\]… / Địa chỉ: \[Địa chỉ cư trú\]… / Hôm nay, con mang bầu nhiệt hu…” .

Cả hai bài văn khấn Ông Hoàng Mười đều dừng ở giữa câu trong bản tài liệu lưu giữ. Phần sau, người khấn tự nối theo mẫu chung: kể lễ vật, đọc lời cầu thi cử đỗ đạt, học hành tiến bộ, rồi cảm tạ. Đọc khấn không cần thuộc lòng. Mang theo tờ sớ viết sẵn, đọc chậm, rõ từng chữ, giữ tư thế nghiêm trang là được.

Chưa có bản văn khấn tạ lễ riêng sau khi được ứng nghiệm cho Ông Hoàng Mười. Khi đi tạ ơn, người ta thường khấn theo bố cục chung, xưng tên và trình rõ việc đã được như nguyện.

![Trên bàn gỗ có mâm trái cây màu vàng và cam, bình gốm cắm hoa cúc vàng, đĩa giấy đỏ vàng và giỏ xôi trắng](https://chucmungnammoi.com/covers/van-khan-ong-hoang-muoi-minh-hoa-2-2ksbjd-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Trình tự dâng hương

Đến đền, việc đầu tiên không phải là chạy ngay đến ban Ông Hoàng Mười. Trình tự đúng là thắp hương trước ban Thổ Công, sau đó đến ban Công Đồng, cuối cùng mới là ban Ông Hoàng Mười. Sau khi đọc xong văn khấn Ông Hoàng Mười dâng Ngài, chờ hương cháy được hai phần ba rồi mới hóa vàng nếu có.

Hóa sớ điệp sau khi khấn gồm bốn bước nối tiếp.

Trước hết, đợi nhang cháy qua hai phần ba tuần hương, ước tính khoảng 30 đến 45 phút, để bề trên thụ hưởng lễ vật. Tiếp đó, đứng nghiêm trang, chắp tay vái tạ ba vái trước ban thờ, khấn thầm xin phép Ngài cho hạ lễ vật và đem sớ điệp đi hóa. Sau đó, lấy riêng tờ sớ điệp đem ra lò hóa vàng của đền, châm lửa đốt sớ trước tiên. Cuối cùng, quan sát chờ sớ điệp cháy hết hoàn toàn thành tro mới hóa phần tiền vàng mã.

Thử hình dung một người đi lễ gộp sớ điệp và vàng mã đốt cùng một lúc: sớ cháy dở, kẹt giữa đống vàng mã, phải hóa lại, mất cả tính trang nghiêm. Vì vậy đốt sớ trước, vàng mã sau, tuyệt đối không gộp chung hai thứ.

Hóa xong, hoa quả, oản tài lộc và lễ mặn được mang về thụ lộc, chia đều cho các thành viên trong gia đình, không vứt bỏ lãng phí. Hoa tươi có thể cắm tiếp trong bình nước sạch, oản vàng đặt lên ban thờ gia tiên. Lộc mã, sớ điệp, tiền vàng mã phải hóa cháy hoàn toàn tại lò của đền, không mang về.

## Ngày vía và khung giờ

Ngày tiệc chính, còn gọi là vía Ông Hoàng Mười, là mùng 10 tháng 10 âm lịch hằng năm, ngày kỷ niệm Ngài hiển thánh, được gọi là Đại lễ tiệc Thánh. Ngày khai điểm mùa lễ là Rằm tháng 3 âm lịch.[1] Bỏ lỡ hai ngày ấy, người ta vẫn đi lễ vào các ngày rằm, mùng một hàng tháng, hoặc bất cứ ngày nào tâm trí thanh tịnh.

Nếu dâng lễ tại gia, khung giờ lý tưởng nhất là từ 7 giờ đến 9 giờ sáng, lúc không gian yên tĩnh, trong lành, tâm trí dễ tập trung. Nếu đi lễ tại đền, thắp hương vào ban ngày khi đền mở cửa, giữ tâm thế trang nghiêm, thanh tịnh. Mùa cao điểm du khách là sau giao thừa đến hết tháng 3 âm lịch và tiếp tục vào tháng 10 âm lịch. Tháng 9, tháng 10 âm lịch, đền đón hàng trăm lượt khách mỗi ngày. Ai muốn tránh chen lấn thì đi vào các tháng ngoài hai dịp đó.

Đến hẹn, đền lại có lễ hội. Phần lễ gồm lễ yết cáo sáng 14/3 âm lịch, lễ đại tế tối 14/3, rồi lễ dâng hương và yết cáo sáng, tối 15/3. Kỳ tháng 10 có lễ đại tế tối 9/10, lễ tưởng niệm dâng hương sáng 10/10 và lễ tạ tối 10/10. Phần hội có rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền chiều 14/3 và 9/10. Ngày 15/3 và 10/10 có hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người. Sau cùng, rước sắc bằng thuyền từ đền về nhà thờ họ Nguyễn tại làng Xuân Am sáng 16/3 và chiều 11/10.

Đẹp nhất có lẽ là lễ thả đèn hoa đăng kết hình hoa sen, châm nến đỏ thả trên sông Cồn Mộc vào khoảng 22h tối mùng 9/10 âm lịch.

![Một người phụ nữ bưng khay lễ đi giữa lối đi hai bên bày đầy hoa quả, phía xa là cổng chùa mái cong và vài du khách](https://chucmungnammoi.com/covers/van-khan-ong-hoang-muoi-minh-hoa-3-du5x1s-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Điều kiêng kỵ khi đi lễ

Chốn linh thiêng có những nếp người đi lễ nên giữ. Trang phục phải kín đáo, lịch sự; người mặc váy ngắn, áo hở cổ bị coi là thiếu trang nghiêm. Trước khi đi lễ nên tắm rửa, tẩy sạch bụi trần. Gia chủ nên ăn chay, giữ tâm thanh tịnh ngày lễ; kiêng ăn mắm tôm, tỏi, hành tăm ít nhất một ngày trước khi lễ. Không cúng đồ ăn mặn đặc biệt là thịt chó, thịt mèo; khi khấn vái thành tâm, không đùa giỡn.

Trong đền, không tự ý chạm vào tượng thần, bát hương ban thờ chính. Tiền công đức bỏ vào hòm, không nhét vào tay tượng; không cúng tiền âm phủ có hình nhân, tà đạo. Theo quan niệm dân gian về sự thanh tịnh chốn linh thiêng, phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt nên hạn chế vào khu vực cung cấm hoặc trực tiếp dâng hương, đọc sớ điệp. Có thể đứng từ xa chắp tay vái lạy, thế cũng đủ tỏ lòng thành kính.

Khi dâng trầu têm, hát văn dâng Ngài có câu “Đất lề quê thói Nghệ An / Miếng trầu cau đậu dâng Quan Hoàng Mười”, cùng những câu ca ngợi tài đức Ngài như “Gươm thiêng chống đất chỉ trời / Đánh Đông dẹp Bắc việc ngoài binh nhung” hay “Xứ Nghệ vui nhất Chợ Vinh / Đẹp nhất Bến Thủy, anh linh Ông Mười”.

Một miếng trầu, một bài văn khấn Ông Hoàng Mười đọc chậm rãi cho trọn câu chữ, thế là đã giữ được nếp cũ giữa đời thường.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

1. [Đền Ông Hoàng Mười](https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n_%C3%94ng_Ho%C3%A0ng_M%C6%B0%E1%BB%9Di) (Wikipedia)
2. [Lâm Cung Thánh Mẫu](https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_Cung_Th%C3%A1nh_M%E1%BA%ABu) (Wikipedia)
