# Cách đọc văn khấn khi cúng giỗ cho đúng nếp xưa

> Bài văn khấn khi cúng giỗ đọc đúng nếp là ở chỗ gọi đúng danh xưng người đã khuất và tâu rõ ngày mất. Theo sách Thọ Mai Gia Lễ, việc cúng giỗ chỉ thực hiện trong 5 đời theo phép Ngũ đại đồng đường. Trong một buổi giỗ, người khấn phải gọi đúng bậc của người đã khuất, từ Hiển khảo, Hiển tỷ đến những danh xưng ít gặp như Hiển Nhạc Phụ, Hiển Cữu Phụ.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/van-khan-khi-cung-gio>
- Chuyên mục: Phong tục
- Tác giả: Ban Phong tục
- Ngày đăng: 01/11/2026
- Chủ đề: Văn khấn cúng giỗ, Cách xưng khấn gia tiên, Cúng cáo giỗ, Ngày Tiên Thường, Giỗ đầu giỗ thường, Thọ Mai Gia Lễ
- Thời gian đọc: 12 phút

---

Một mâm cỗ bày xong, hương đã cháy, người đứng trước bàn thờ vẫn ngập ngừng không biết gọi ông nội đã mất là Tổ khảo hay Hiển khảo. Phần lớn sự lúng túng trong buổi giỗ nằm ở chỗ này, không nằm ở mâm cỗ.

Những câu ấy nằm trong bài văn khấn khi cúng giỗ, mà bài khấn thì mỗi nhà truyền lại một bản, mỗi vùng đọc một chút khác nhau.

Cái chung của tục giỗ ít thay đổi: con cháu nhớ ngày mất, bày lễ, thắp hương, thưa với ông bà rồi cùng ngồi lại với nhau.

Cái riêng thì nhiều vô kể, từ việc cúng vào giờ Ngọ hay giờ Tuất, mâm mặn hay mâm chay, cho đến chuyện đọc bài khấn dài hay chỉ vài lời thưa gọn.

Nắm được phần cốt lõi rồi, phần tùy nghi sẽ dễ thở hơn nhiều.

## Ý nghĩa của ngày giỗ

Giỗ là buổi lễ tưởng nhớ người đã qua đời, nhắc con cháu nhớ người đi trước và gắn kết tình cảm các thành viên trong gia đình, dòng họ.[1] Ngày giỗ của người Việt thường tính theo âm lịch; riêng người Công giáo Việt Nam thường cúng giỗ theo dương lịch.[1]

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đi vào gần như mọi nhà người Việt, thể hiện lòng hiếu thảo và sự thủy chung.[2]

Sách Thọ Mai Gia Lễ của Hồ Sỹ Tân chép việc cúng giỗ chỉ làm trong 5 đời theo phép Ngũ đại đồng đường.[1] Tác giả là người làng Hoàn Hậu, vùng Quỳnh Lưu nay thuộc tỉnh Nghệ An, đậu Tiến sĩ năm 1721. Đến đời thứ sáu, người chịu trách nhiệm cúng mang thần chủ của cụ đi chôn, gọi là ngũ đại mai thần chủ.[1]

Dân gian cũng tin rằng quá 5 đời thì vong linh đã siêu thoát hoặc đầu thai sang kiếp khác, con cháu không phải cúng giỗ nữa.

Quy mô buổi giỗ không quyết định lòng thành.

Nhà có điều kiện làm linh đình, mời họ hàng bạn bè; nhà nghèo chỉ cần bát cơm, quả trứng, đĩa muối, bát canh, ba nén nhang và cây đèn dầu cũng đủ tỏ lòng kính. Lòng thủy chung với người đã khuất nằm ở việc con cháu nhớ đúng ngày mất để làm giỗ, không liên quan đến chuyện làm to hay nhỏ.[1]

## Cách xưng hô trong văn khấn cúng giỗ

Cách xưng khấn phân biệt theo vai vế để giữ sự tôn kính đúng mực. Theo tục xưa, người khấn gọi bố đã mất là Hiển khảo, mẹ là Hiển tỷ, ông là Tổ khảo, bà là Tổ tỷ, cụ ông là Tằng Tổ Khảo, cụ bà là Tằng Tổ Tỷ. Với bậc Thủy Tổ, lời khấn là Hiển Thủy Tổ Khảo nếu là ông, Hiển Thủy Tổ Tỷ nếu là bà.[1]

Anh em chị em đã mất cũng có danh xưng riêng: Thệ huynh là anh, Thệ đệ là em trai, Thệ tỷ là chị, Thệ muội là em gái; cô dì chú bác gọi chung là Bá Thúc Cô Di. Có nơi gộp tất cả thành Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nội ngoại Gia tiên cho gọn.

Sách Thọ Mai Gia Lễ còn chép những trường hợp ít nhà nhắc tới. Từ đời thứ hai sau Thủy Tổ đến trước Ngũ Đại, đàn ông đã mất khấn gộp là Hiển Cao Tằng Tổ Khảo, đàn bà đã mất khấn gộp là Hiển Cao Tằng Tổ Tỷ. Người chết khi chưa đến tuổi vị thành niên thì đặt chữ Mãnh trước bậc Cao, Tằng hoặc Tổ tùy từng bậc, đồng thời bỏ chữ Hiển và chữ Khảo.[1]

Ít gặp hơn nữa là các trường hợp một bên không còn người thừa tự.[1] Bên vợ không còn ai nối dõi thì con rể gọi cha vợ đã mất là Hiển Nhạc Phụ, mẹ vợ là Hiển Nhạc Mẫu. Bên mẹ không còn người thừa tự thì cậu ruột đã mất được gọi là Hiển Cữu Phụ.[1] Những danh xưng này hiếm xuất hiện trong đời thường, nhưng người đứng khấn nên biết để không gọi sai khi trong họ rơi vào hoàn cảnh ấy.

Một chỗ dễ nhầm khác: nếu bố hoặc mẹ còn sống, trong phần kính lạy Tổ Tiên phải thay Hiển khảo, Hiển tỷ bằng Tổ Khảo, Tổ Tỷ. Người mất chưa lên bậc Hiển khi người trên vẫn còn.

Không phải nhà nào cũng giữ đủ các danh xưng này, nhất là ở thành phố, khi nhiều gia đình chỉ còn một bàn thờ chung cho ông bà nội ngoại. Cách chắc chắn nhất là hỏi người lớn tuổi nhất trong họ trước buổi lễ, hoặc xem lại sổ ghi ngày mất mà ông bà để lại.

![Góc phòng quê yên tĩnh với bàn gỗ cũ cạnh cửa sổ, trên bàn có sách bìa vải, xấp giấy, hộp mực nhỏ và đèn dầu](https://chucmungnammoi.com/covers/van-khan-khi-cung-gio-minh-hoa-1-rpo37z-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Bước 1: Cúng cáo giỗ ngày Tiên Thường

Với giỗ trọng là giỗ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, ngày hôm trước chính giỗ phải làm lễ cúng cáo giỗ, còn gọi là ngày Tiên Thường.[1] Lễ này báo cho người đã khuất biết hôm sau về hưởng giỗ và xin phép Thần linh, Thổ Địa cho hương linh được về.

Lễ cáo giỗ gồm hai phần: cúng tại gia và cúng ngoài mộ. Theo phong tục, ngày cáo giỗ phải cúng Công Thần Thổ Địa trước, cúng Gia tiên sau.[1] Nhân dịp ra mộ, con cháu đắp sửa, vun bồi lại mộ phần cho tươm tất.

Riêng giỗ chồng, người vợ làm lễ báo Thổ Thần xin phép hương hồn chồng về hâm hưởng. Trong nếp xưa, phần cúng Thổ Địa không phải thủ tục cho có: người đã khuất muốn về nhà phải có phép của vị thần cai quản đất ấy.

Nếu không có mộ để cúng ngoài, gia đình có thể chỉ thực hiện phần cúng tại gia.

Điều cốt lõi của ngày Tiên Thường là báo trước một ngày, để hôm sau buổi giỗ chính được trọn vẹn.

**Đọc thêm:** [Cách cúng tất niên cuối năm: ngày giờ, mâm lễ, văn khấn](https://chucmungnammoi.com/tap-chi/cach-cung-tat-nien-cuoi-nam)

## Bước 2: Sắm lễ và bày mâm cúng

Lễ giỗ đầu gồm mâm lễ mặn, hoa, quả, hương, phẩm oản cùng nhiều đồ hàng mã như tiền vàng, quần áo, nhà cửa, xe cộ.[1] Mâm mặn truyền thống thường có gà trống luộc nguyên con, xôi gấc hoặc xôi đỗ xanh, giò lụa, giò tai hoặc chả quế, canh măng miến nấu sườn hoặc canh bóng thả, món xào, nộm và nem rán.

Gia đình theo đạo Phật hoặc có người thân ăn chay thì sắm mâm chay. Mâm chay gồm xôi đỗ xanh, xôi hạt sen hoặc xôi vò; giò chay làm từ bột mì, đậu xanh hoặc váng đậu; canh nấm hạt sen, canh rau củ; đậu hũ xào nấm; nem chay, chả lá lốt chay, nộm chay và chè trôi nước.

Đồ mã trong ngày giỗ đầu có tên riêng là mã biếu.[1] Người ta tin đồ mã này người mất không được dùng mà phải mang biếu các ác thần để tránh bị quấy nhiễu, nên sau lễ phải mang ra tận ngoài mộ để hóa. Trong đám mã ấy có cả hình nhân bằng giấy; theo tín ngưỡng dân gian, hình nhân không phải để thế mạng mà khi đốt đi sẽ hóa thành người hầu hạ vong linh nơi Âm giới.

Bày biện thì tùy bàn thờ và tùy số người dự. Mâm cỗ đặt trước bàn thờ chính, hoa quả bày bên, hương đèn đặt chỗ trang nghiêm nhất. Nhà chật thì bày gọn một mâm, miễn đủ món chính và đủ chỗ để người đứng khấn.

![Một người đàn ông áo tối cúi đầu đứng cạnh bàn gỗ đặt trái cây, hoa và nhang đang khói, bên phiến đá trên đồi cỏ xanh](https://chucmungnammoi.com/covers/van-khan-khi-cung-gio-minh-hoa-2-tbkkto-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Bước 3: Đọc văn khấn khi cúng giỗ theo từng loại giỗ

Ngày chính giỗ, bài khấn mở đầu bằng Nam mô A Di Đà Phật ba lần, rồi kính lạy các vị Thần linh cai quản trong xứ này. Tiếp đến là các bậc gia tiên hai họ nội ngoại, từ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ đến Thúc Bá Đệ Huynh, Cô Di, Tỷ Muội. Sau đó gia chủ xưng Tín chủ, tâu rõ họ tên, địa chỉ, ngày tháng năm âm lịch và chính ngày giỗ của người được cúng. Rồi mới kính mời người được giỗ về giáng lâm linh án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ con cháu bình an.

Với giỗ đầu, trước ngày giỗ phải có bài khấn Thổ Công, Táo Quân, Long Mạch. Gia chủ tâu rõ họ tên, tuổi, địa chỉ, ngày tháng năm âm lịch, nhân ngày mai là ngày Giỗ Đầu của người được cúng. Tiếp đó kính cáo các vị thần linh chứng minh, phù hộ toàn gia an ninh khang thái, và thỉnh các Tiên linh, Gia tiên cùng vong hồn nội tộc về hâm hưởng.

Riêng bài khấn Gia Tiên ngày Giỗ Đầu, phải tâu rõ tên người được cúng, ngày mất theo âm lịch và nơi mộ phần táng. Rồi mới kính mời các cụ Tổ Tiên nội ngoại, Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc, Cô Di cùng các Hương linh gia tiên về hâm hưởng; có nơi mời cả vong linh Tiền chủ, Hậu chủ trong đất.

Thứ tự mời trong ngày chính giỗ cũng có lý: người được hưởng giỗ được mời trước, rồi mới đến vong linh hai họ nội ngoại theo thứ tự từ bậc cao nhất xuống, cuối cùng mới cáo thỉnh gia thần. Người đứng khấn đọc theo đúng mạch ấy, không đảo lên đảo xuống.

Giỗ hết có hai bài: bài khấn Thổ Thần, Táo Quân, Long Mạch đọc trước ngày giỗ, và bài khấn chính ngày Giỗ Hết kính lạy chư gia tiên Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ nội ngoại. Bài này cũng tâu rõ ngày mất và vị trí mộ phần táng, mời vong linh giáng về linh sàng thụ hưởng.

Các bài khấn lưu truyền qua miệng nên hầu hết không còn nguyên vẹn, mỗi nơi một dị bản; các bản hiện dùng được các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá là đầy đủ và sát bản gốc nhất. Vì thế, khác nhau vài chữ giữa bản của nhà này và nhà bên cạnh không phải chuyện hệ trọng. Điều đáng lo hơn là gọi sai bậc của người đã khuất, hoặc bỏ mất đoạn tâu ngày mất và vị trí mộ phần trong bài văn khấn cúng giỗ.

**Đọc thêm:** [Văn khấn ông Công ông Táo cổ truyền và 9 lễ ngày 23 tháng Chạp](https://chucmungnammoi.com/tap-chi/van-khan-ong-cong-ong-tao)

## Bước 4: Vái lạy và hạ lễ

Người đứng khấn thường là người lớn tuổi nhất trong nam hoặc trưởng nam; nếu gia chủ không có mặt thì nhờ người thân trong họ thay mặt. Trước khi khấn, người đọc tắm rửa sạch sẽ, ăn mặc chỉnh tề, đứng ngay ngắn trước bàn thờ.

Khi làm lễ, gia chủ thắp hương với số nén lẻ như 1, 3, 5, 7 hoặc 9 nén, cầm bài khấn trên tay, đứng thẳng, hai tay chắp trước ngực. Đọc to, rõ ràng, chậm rãi; không đọc vội vàng, lí nhí hay vừa đọc vừa làm việc khác. Mỗi lần đến câu Con lạy hoặc kết thúc mỗi đoạn thì vái lạy, cúi mình hoặc quỳ lạy tùy phong tục nhà; đọc xong làm đủ 3 lạy rồi đứng dậy.

Đọc xong không hạ lễ ngay. Để hương cháy hết khoảng hai phần ba mới hạ hương; không thổi tắt hương bằng miệng, cần tắt thì quạt nhẹ bằng tay hoặc bấm tắt. Vàng mã chỉ đốt sau khi kết thúc buổi lễ, cùng lúc hạ hương hạ lễ.

Con cháu ở xa không về dự giỗ được thì thắp hương hướng về quê nhà, hoặc gửi tiền về nhờ người thân cúng thay. Cách này giữ được phần lễ mà không phải chạy về gấp. Đốt vàng mã nên thực hiện ở nơi thoáng, tránh trong không gian kín để giảm nguy cơ cháy. Khói và tro trong nhà kín vừa nguy hiểm vừa làm phiền hàng xóm.

![Bàn thờ gỗ trong nhà với năm ngọn nến đỏ đang cháy, bát hương khói bay lên, đĩa trái cây và chén sứ](https://chucmungnammoi.com/covers/van-khan-khi-cung-gio-minh-hoa-3-abwcrl-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Giỗ đầu, giỗ hết và giỗ thường

Giỗ đầu còn gọi là Tiểu Tường, là ngày giỗ đầu tiên sau đúng một năm ngày mất, thuộc một trong hai giỗ của kỳ tang.[1] Con cháu mặc đồ tang, khi tế lễ có khóc như đưa đám, nhà có điều kiện còn thuê đội kèn trống. Ngày giỗ đầu luôn tính là ngày tròn một năm ngày người thân qua đời, dù tháng đủ hay tháng thiếu.

Giỗ hết còn gọi là Đại Tường, tức ngày giỗ vào hai năm ba tháng sau ngày mất.[1] Giỗ hết vẫn nằm trong vòng tang nên con cháu vẫn mặc đồ tang và làm nghi lễ như ngày giỗ đầu; sau giỗ này mới bỏ tang phục, rồi chọn ngày tốt làm lễ Cải cát, sang mộ. Cần phân biệt: Chung Thất là lễ 49 ngày, Tốt Khốc là lễ 100 ngày, đều thuộc vòng tang đầu, không phải giỗ hết.

Từ năm thứ ba trở đi là giỗ thường, còn gọi là Cát Kỵ; những năm này không phải mặc đồ tang nữa nhưng đám giỗ và bài khấn vẫn phải có. Theo quan niệm xưa, chỉ sau giỗ hết của chồng, người vợ mới có thể đi bước nữa. Vì thế có người coi giỗ hết là ngày giỗ quan trọng nhất: từ đây người sống hết tang, vong linh người đã khuất cũng hết kỳ tang.

Giờ cúng giỗ thường chọn giờ Ngọ, tức 11h–13h, hoặc giờ Tuất, tức 19h–21h, tùy tập quán từng gia đình, từng vùng miền.

Quan trọng nhất là cả gia đình có mặt đông đủ để làm lễ.

Nhà nào quen cúng sáng sớm thì cứ giữ nếp ấy, miễn mọi người thu xếp được. Buổi giỗ nên làm đúng ngày, nhà bận thì làm sớm trước một ngày. Theo quan niệm của người Việt, bỏ giỗ là bất hiếu, là thiếu tôn trọng tổ tiên. Làm sớm một ngày thì được, làm muộn thì không ai muốn.

Người đọc bài khấn nên được phân công từ trước buổi lễ, không phải đến lúc thắp hương mới nhìn nhau. Người ấy cầm bản khấn đã chép sẵn, đọc chậm, và biết mình sẽ gọi ông bà bằng danh xưng nào. Một buổi giỗ giữ được nếp hay không thường nằm ở chỗ chuẩn bị nhỏ ấy.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

1. [Giỗ](https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BB%97) (Wikipedia)
2. [Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên](https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%ADn_ng%C6%B0%E1%BB%A1ng_th%E1%BB%9D_c%C3%BAng_t%E1%BB%95_ti%C3%AAn) (Wikipedia)
