Chúc Mừng Năm Mới

Chính tả

Tri thức hay trí thức: viết sao cho đúng?

Hỏi tri thức hay trí thức, câu trả lời là cả hai đều đúng, mỗi từ một nghĩa. Từ này có nguồn gốc từ một bản tuyên ngôn ở Pháp năm 1906. Trong tiếng Việt, “tri thức” chỉ sự hiểu biết còn “trí thức” chỉ người.

12 phút đọc

Tri thức hay trí thức đều đúng chính tả, nhưng hai từ không thay thế được cho nhau: một từ nói về sự hiểu biết, từ kia nói về người. Trang này viết “tri thức” khi câu nói về kiến thức, hiểu biết, và giữ “trí thức” cho người lao động trí óc.

Phân vân thường nảy ra vì hai từ chỉ khác nhau một dấu thanh. Từ “trí thức” có nguồn gốc từ một bản tuyên ngôn ở Pháp năm 1906, sẽ nói kỹ ở phần sau.11

Cách kiểm tra nhanh nhất là thay từ: câu nào thay được bằng “kiến thức, hiểu biết” thì viết “tri thức”; câu nào phải thay bằng “người có học thức” mới xuôi thì viết “trí thức”.

Tri thức hay trí thức: từ nào đúng?

Vậy tri thức nghĩa là gì? Trong tiếng Việt, cả “tri” lẫn “thức” đều mang nghĩa biết.9 Tri thức là những kiến thức, thông tin, sự hiểu biết hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm, giáo dục hoặc tự học hỏi.9 Sự hiểu biết ấy có thể ẩn tàng như kỹ năng, năng lực thực hành, hoặc tường minh như hiểu biết lý thuyết.9

Đến nay chưa có định nghĩa nào về tri thức được tất cả mọi người chấp nhận, nên câu hỏi tri thức là gì vẫn nhận về nhiều câu trả lời khác nhau.9 Việc hình thành tri thức dính tới những quá trình nhận thức phức tạp: tri giác, truyền đạt, liên hệ và suy luận.9 Ngành nghiên cứu về nó là tri thức luận, hay nhận thức luận, xét bản chất, nguồn gốc và phạm vi của quá trình nhận thức.13

Quản trị tri thức là quá trình quản lý cẩn trọng tri thức để đáp ứng nhu cầu hiện hữu, nhận ra và khai thác tài sản tri thức của tổ chức.15 Lĩnh vực này lấy con người làm trọng tâm, còn công nghệ thông tin chỉ đóng vai trò hỗ trợ.15 Tri thức còn có một đặc tính lạ: không hao mòn như của cải. Khác với tài sản vật chất, khi một người đang dùng tri thức thì người khác vẫn dùng được, và càng sử dụng nhiều thì tri thức càng tăng giá trị.15 Các nhà kinh tế học gọi đó là quy luật tăng lợi nhuận.15

Chuyện định nghĩa tri thức cũng có lịch sử riêng. Nhà triết học Plato trong tác phẩm Theaetetus đã nêu sự cần thiết phân biệt giữa kiến thức và niềm tin thực sự.9 Nhiều người từ đó gán cho ông định nghĩa kiến thức là “niềm tin thực sự chính đáng”, và vấn đề Gettier về sau cho thấy định nghĩa này khó đứng vững.9

Nhận thức là hành động hay quá trình tiếp thu kiến thức thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan.14 Quá trình nhận thức dùng tri thức có sẵn để tạo ra tri thức mới.14 Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã nhận thức được.14

Tuy nhiên, trí thức thì khác hẳn: đó là danh từ chỉ người.

Người được gọi là trí thức là người có vốn hiểu biết sâu rộng hơn mặt bằng chung của xã hội ở từng thời kỳ, trong một hay nhiều lĩnh vực.11 Từ này có thể chỉ ba kiểu người. Kiểu thứ nhất sống bằng tư tưởng, suy luận, trí thông minh và phản biện. Kiểu thứ hai tạo ra và truyền bá ý tưởng mới trong ngành của mình.11 Kiểu thứ ba am hiểu sâu văn hóa nghệ thuật đến mức tiếng nói có sức nặng với công chúng.11

Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị coi khoa học công nghệ là động lực chính của tăng trưởng.4 Muốn triển khai hiệu quả, nhân tố quan trọng nhất vẫn là đội ngũ trí thức, nhà khoa học.4

Chỗ dễ lẫn nằm ở hình thức chữ viết. Hai từ chỉ khác nhau một dấu sắc, đọc lên gần như nhau, nên khi viết nhanh trên điện thoại người ta dễ bấm nhầm. Thêm nữa, nghĩa của chúng lại gần nhau, cùng nói về chuyện học hành, hiểu biết. Nhiều người nghe thấy âm “trí” quen tai hơn nên cứ thế mà gõ, không dừng lại xem câu ấy nói về cái gì.

Trong thực tiễn sử dụng tiếng Việt, “tri thức” dùng cho sự hiểu biết: tri thức nhân loại, nền tảng tri thức quốc gia, tài sản tri thức, kinh tế tri thức. Ngược lại, “trí thức” gắn với người: đội ngũ trí thức trẻ, nữ trí thức, giới trí thức. Đội ngũ trí thức Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu người.1 Con số ấy cho thấy khoảng cách nghĩa không hề nhỏ: một bên là thứ tích lũy trong đầu, truyền qua sách vở và lớp học; một bên là những người làm nghề bằng cái đầu ấy.

Mẹo phân biệt và câu đúng sai

Ngoài cách thay từ ở đầu bài, mẹo thứ hai là nhìn từ cùng gốc: “trí” đi với trí tuệ, trí óc, trí nhớ, trí lực, nên “trí thức” thuộc nhóm chỉ con người và hoạt động của cái đầu. Còn “tri” đi với tri kỷ, tri âm, tri giao, đều xoay quanh việc biết và người biết mình.

Mẹo thứ ba là nhìn chữ đứng trước. “Tri thức” thường đứng sau những từ chỉ khối lượng, nền tảng, công cụ: nền tri thức, kho tri thức, hệ thống tri thức, tài sản tri thức. “Trí thức” thường đứng sau những từ chỉ nhóm người: giới trí thức, đội ngũ trí thức, tầng lớp trí thức, nữ trí thức.

Cứ áp vào những cái tên có thật sẽ thấy rõ. Diễn đàn Trí thức trẻ Việt Nam toàn cầu lần thứ I, tổ chức ngày 28-29/11/2018, ra mắt Mạng lưới Trí thức trẻ Việt Nam quy tụ người trong và ngoài nước.2 Hội Nữ trí thức Việt Nam thành lập tháng 8/2011, có hơn 3.500 thành viên, hơn 60% có học vị từ thạc sĩ trở lên. Ngày 16/5/2019, hội tổ chức Hội nghị Biểu dương nữ trí thức tiêu biểu lần thứ 2.3

Ngược lại, khi nói về nội dung được dạy và học, chữ “tri thức” mới đúng chỗ. Giáo dục tri thức là nền tảng tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao. Ở đây người ta truyền tri thức, không phải truyền trí thức.

Tám cặp câu dưới đây mô phỏng tình huống đời thường, mỗi cặp một dòng đúng và một dòng sai.

Đúng: “Nền tri thức của dân tộc tích lũy qua nhiều thế hệ”. Sai: “Nền trí thức của dân tộc tích lũy qua nhiều thế hệ”.

Đúng: “Đội ngũ trí thức trẻ góp sức cho chuyển đổi số”. Sai: “Đội ngũ tri thức trẻ góp sức cho chuyển đổi số”.

Đúng: “Doanh nghiệp biến kinh nghiệm của nhân viên thành tài sản tri thức”. Sai: “Doanh nghiệp biến kinh nghiệm của nhân viên thành tài sản trí thức”.

Đúng: “Tri thức may, mặc áo dài Huế đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”. Sai: “Trí thức may, mặc áo dài Huế đã được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia”.

Đúng: “Mẹ dặn con trau dồi tri thức mỗi ngày”. Sai: “Mẹ dặn con trau dồi trí thức mỗi ngày”.

Đúng: “Giới trí thức trong và ngoài nước góp ý cho dự thảo”. Sai: “Giới tri thức trong và ngoài nước góp ý cho dự thảo”.

Đúng: “Kinh tế tri thức dựa nhiều vào công nghệ và đổi mới”. Sai: “Kinh tế trí thức dựa nhiều vào công nghệ và đổi mới”.

Đúng: “Chị ấy là nữ trí thức ngành y, công tác ở bệnh viện tuyến cuối”. Sai: “Chị ấy là nữ tri thức ngành y, công tác ở bệnh viện tuyến cuối”.

Ảnh minh họa được tạo bằng AI

Một chiếc bàn gỗ cũ đặt hai cuốn sách bìa tối và sáng cạnh một tách trà xanh còn bốc khói, ánh sáng chiều từ cửa sổ
Một chiếc bàn gỗ cũ đặt hai cuốn sách bìa tối và sáng cạnh một tách trà xanh còn bốc khói, ánh sáng chiều từ cửa sổ.

Chữ trí thức ra đời từ châu Âu

Chữ “trí thức” trong tiếng Việt không tự nhiên mà có. Cuối thế kỷ 18, giữa lúc Ba Lan bị Nga chia cắt (1772-1795), ở xứ này nổi lên một tầng lớp trí thức. Sang thế kỷ 19, nhà trí thức Ba Lan Bronisław Trentowski sáng tạo thuật ngữ inteligencja để định danh những người có học và giai tầng tư sản yêu nước.

Ở Nga trước Cách mạng Tháng Mười 1917, thuật ngữ intelligentsiya chỉ tầng lớp những người có học thức, với nền tảng vốn văn hóa giúp họ gánh vác sứ mệnh lãnh đạo chính trị. Nhóm này được hiểu là những người làm công việc trí óc phức tạp, phê bình, hướng dẫn và đi đầu trong đời sống văn hóa - chính trị xã hội.

Cách hiểu ấy về sau đi vào nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.

Còn ở Pháp, từ “trí thức” ra đời đúng vào một vụ việc cụ thể. Năm 1906, một văn bản kháng nghị được công bố, do nhà văn Zola ký tên đầu. Thủ tướng Pháp Clemenceau gọi đó là “Tuyên ngôn của Trí thức”. Trước đó, những bộ từ điển lớn như Larousse 1866-1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1885-1902 chưa ghi nghĩa danh từ này.

Một tính từ mô tả người có học đã chuyển thành danh từ chỉ cả một tầng lớp, chỉ sau một bản tuyên ngôn.

Đọc thêm: Sương giá hay xương giá? Từ nào đúng chính tả, nghĩa là gì

Tên riêng và cặp từ hay lẫn

Có những tên riêng khiến người viết phải dừng lại một giây. Bộ sách giáo khoa “Kết nối tri thức với cuộc sống” dùng chữ “tri thức” trong tên, một ví dụ thật về chữ ấy nằm trong tên riêng. Tạp chí Tri thức, trực thuộc Hội Xuất bản Việt Nam, đổi tên thành Znews cuối năm 2023.

Còn Nguyễn Tri Thức, sinh ngày 16/9/1973, là bác sĩ, từng là Thứ trưởng Bộ Y tế và Giám đốc Bệnh viện Chợ Rẫy. Đây là tên người, không liên quan tới nghĩa tri thức.

Báo chí cũng có lúc dùng “trí thức” theo nghĩa khen ngợi ngoại hình và phong thái. Cụm “người đẹp trí thức” từng được dùng để miêu tả Á hậu Phương Nhi khi hình ảnh cô xuất hiện ở Trường Đại học Luật Hà Nội. Ở đây chữ ấy vẫn chỉ người, chỉ nét học thức toát ra từ một người.

Cặp từ người đọc hay hỏi thêm là kiến thức và tri thức khác nhau thế nào. Cách hiểu gọn: kiến thức là phần đã học được, còn tri thức rộng hơn, gồm cả hiểu biết, kỹ năng và cách vận dụng có được nhờ trải nghiệm, giáo dục hoặc tự học.

Về chuyện tri thức hay trí thức đúng chính tả, cả hai đều đúng, chỉ cần đặt đúng chỗ. Ai còn phân vân tri thức hay trí thức từ nào đúng thì cứ áp quy tắc thay từ ở đầu bài là ra ngay. Muốn soát nhanh các cặp dễ lẫn cùng nhóm, người viết có thể xem thêm Chuyên mục Chính tả và quy tắc viết đúng từ Hán Việt.

Một người đàn ông mặc áo choàng trắng ngồi quay lưng bên bàn gỗ, tay đặt trên tập hồ sơ, ống nghe bệnh nằm trên bàn
Một người đàn ông mặc áo choàng trắng ngồi quay lưng bên bàn gỗ, tay đặt trên tập hồ sơ, ống nghe bệnh nằm trên bàn, hai người khác ngồi mờ phía sau gần giường, sáng nhẹ từ cửa sổ.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Câu hỏi thường gặp

Kiến thức và tri thức khác nhau thế nào? Kiến thức là phần đã học được, còn tri thức rộng hơn, gồm cả hiểu biết, kỹ năng và cách vận dụng có được nhờ trải nghiệm, giáo dục hoặc tự học.

Tri thức hay trí thức? Cách nào đúng? Dù hỏi xuôi hay hỏi ngược, trí thức hay tri thức, câu trả lời vẫn một: cả hai đều đúng, mỗi từ một nghĩa, tri thức là sự hiểu biết, trí thức là người lao động trí óc.

Viết “trí thức” có bị coi là sai chính tả không? Không sai, nhưng sai nghĩa nếu dùng cho sự hiểu biết. Câu nói về kiến thức mà viết “trí thức” là dùng sai từ.

“Tri thức” dùng trong hoàn cảnh nào? Dùng khi nói về kiến thức, hiểu biết, kỹ năng: tri thức nhân loại, tài sản tri thức, kinh tế tri thức.

Có cách nào để không nhầm “tri thức” với “trí thức” nữa không? Cứ thử thay bằng “kiến thức” hoặc “người có học thức” là biết ngay.

Trước khi bấm đăng một câu có hai từ này, có thể dán câu văn vào ô Kiểm tra chính tả của trang để soát lại trước khi đăng.

Nguồn tham khảo

Kiểm tra chính tả

Kiểm tra chính tả tiếng Việt

Xem thêm trong mục Chính tả

chucmungnammoi.com