Chúc Mừng Năm Mới

Phong tục

Phong tục cưới hỏi Việt Nam và trình tự từ dạm ngõ đến lại mặt

Một đám cưới Việt vì sao phải đi qua dạm ngõ, ăn hỏi, xin dâu, đón dâu rồi lại mặt, thay vì chỉ một buổi tiệc? Vì với người Việt, cưới xin là việc của cả hai họ, và phong tục cưới hỏi Việt Nam xếp từng nghi lễ nối tiếp nhau, mỗi bước đều mang một ý nghĩa riêng không thể bỏ.

10 phút đọc

Thử hình dung một đôi vợ chồng trẻ, chồng quê miền Bắc, vợ quê miền Nam, lần đầu cùng hai họ lo chuyện cưới. Nhà trai đòi tráp ăn hỏi phải theo số lẻ như nếp ông bà vẫn làm, nhà gái lại quen chuẩn bị số chẵn, hai bên ngồi bàn mãi chưa thống nhất.

Chuyện số tráp chỉ là một khía cạnh nhỏ.

Phong tục cưới hỏi Việt Nam trải qua nhiều nghi lễ nối tiếp nhau, từ buổi hai gia đình lần đầu gặp mặt tới ngày cô dâu về nhà chồng. Ngay con số 105 chiếc bánh su sê đọc lái thành trăm năm hạnh phúc cũng có lý do của nó. Vậy trình tự các nghi lễ diễn ra ra sao, và vì sao từng bước không thể bỏ?

Trình tự phong tục cưới hỏi Việt Nam

Ba nghi lễ chính làm xương sống của phong tục cưới hỏi Việt Nam là lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ đón dâu. Ngoài ra còn lễ xin dâu trước giờ đón và lễ lại mặt sau ngày cưới. Mỗi lễ là một việc riêng của hai họ, việc sau nối tiếp việc trước.

Khâu hẹn đi trước mọi khâu khác. Trước khi đến, nhà trai phải xem ngày đẹp rồi báo trước; nhà gái chấp thuận thì mọi việc tiếp theo mới diễn ra suôn sẻ. Xưa kia, người mối hẹn ngày với nhà gái để đưa người chủ hôn hoặc cha mẹ nhà trai cùng chú rể đem lễ vật trầu cau đến xin đính ước.

Lễ dạm ngõ, còn gọi là chạm ngõ, là buổi ra mắt đầu tiên của hai gia đình. Nhà trai sang nhà gái bày tỏ ý định chính thức, để đôi nam nữ được tự do đi lại, tìm hiểu nhau trước khi quyết hôn nhân. Buổi dạm ngõ không cần lễ vật rườm rà, thường chỉ có trầu cau, một số nơi thêm chè thuốc, kẹo với số lượng chẵn.

Xưa, đoàn sang nhà gái có bà mối, mẹ, dì, cô của chú rể, cùng các cô gái chưa chồng đội mâm quả đi trước. Lễ chia làm hai phần: phần nhiều đặt lên bàn thờ để cha cô dâu khấn vái tổ tiên, phần còn lại đưa sang nhà ông cậu. Chính tại buổi này, hai họ bàn chuyện xem ngày, định hẹn cho hai lễ lớn phía trước. Sau dạm ngõ, người con gái được xem như đã có nơi có chốn.

Đến lễ ăn hỏi, sự kết giao hứa gả của hai gia đình và hai họ được thông báo chính thức. Sáng sớm hôm hỏi, nhà trai làm lễ cáo gia tiên trước. Sau đó người mối đưa cha mẹ nhà trai, chú rể và họ hàng thân thuộc đem lễ vật sang nhà gái để nhà gái cũng làm lễ cáo gia tiên. Tráp lễ gồm trầu cau, bánh cốm, chè, rượu, lợn quay, có người bưng quả.

Nhà gái nhận lễ, cô dâu ra mắt hai họ, chốt ngày cưới rồi nhà gái lại quả. Việc báo hỷ và chia trầu theo ngay sau đó. Mỗi phần chia gồm một lá trầu, một quả cau, chục hạt mứt sen, một ấm trà, bánh cốm, được phong trong giấy hồng gấp thành hộp vuông dán chữ hỷ bằng giấy bạc, gửi cho họ hàng hai bên.

Từ ngày hỏi, chàng trai chính thức xin nhận làm rể và bắt đầu gọi bố mẹ xưng con. Đôi trẻ từ đó thành vợ chồng sắp cưới.

Khoảng cách giữa hai lễ lớn không có quy định cứng: có thể cách nhau một hai tới ba ngày, một tuần hay lâu hơn, tùy việc chọn ngày đẹp của hai bên gia đình. Sau lễ hỏi, qua bà mối, nhà trai mới biết nhà gái thách những gì để chuẩn bị cho bước tiếp.

Trước giờ đón dâu còn có lễ xin dâu. Mẹ chú rể cùng một người thân đem cơi trầu, chai rượu sang nhà cô dâu để báo trước giờ đoàn đón dâu sẽ đến. Đây là lời xin phép cuối cùng của nhà trai đối với nhà gái, nay một số gia đình bỏ qua hoặc gộp cho gọn.

Đến lễ đón dâu, chú rể mang hoa cưới hoặc lễ vật đến đón cô dâu về nhà; người thân hai bên trao tặng quà và của hồi môn cho cặp đôi như lời chúc phúc. Lễ cưới với bên nhà gái còn gọi là lễ vu quy, với bên nhà trai gọi là lễ tân hôn. Gặp hai cụm từ này trên thiệp cưới, người đọc biết ngay bên nào đứng ra tổ chức.

Tráp ăn hỏi và lễ vật

Một bộ sính lễ ăn hỏi thường có năm tráp: tráp trầu cau, tráp bánh phu thê, tráp chè mứt hạt sen, tráp rượu và thuốc lá, tráp hoa quả tươi. Tráp ăn hỏi thường theo số lẻ 5, 7, 9 hoặc 11, còn số đồ lễ bên trong phải là số chẵn. Đoàn bê tráp thường gồm 5-10 người mặc áo dài đồng bộ, nên nhà trai cần tính sẵn nhân sự cho buổi lễ.

Con số trong tráp lễ đều mang ý nghĩa. Tráp trầu cau thường có 101, 105 hoặc 108 quả. Riêng bánh su sê, một mâm chuẩn phải đủ 105 chiếc, vì 105 đọc lái thành trăm năm hạnh phúc, và hình dáng bánh vốn là biểu tượng của âm dương hòa hợp.

Từng tráp lễ nói lên lời cảm ơn của nhà trai: cha mẹ cô gái đã tốn công dưỡng dục, và cô dâu tương lai là người nhà trai quý mến, tôn trọng.

Buổi hỏi còn có chuyện phân chia lễ. Nhà gái lấy một ít đồ lễ và trầu cau mang lên thắp hương trên bàn thờ tổ tiên; phần giữ lại thường là hai phần, chỉ trả lại nhà trai một phần, phần nhà gái giữ dùng để mời cưới. Nhà trai còn chuẩn bị ba phong bì tiền gọi là lễ lên đèn: một cho nhà nội cô dâu, một cho nhà ngoại, một để thắp hương trên bàn thờ nhà cô dâu; số tiền tùy nhà gái định.

Mâm quà đỏ bọc vải đỏ đặt trên bàn gỗ cũ, có lá xanh và hai quả tròn, cạnh ba chiếc bánh vàng trên đĩa nhỏ
Ảnh minh họa

Số tráp ăn hỏi ba miền khác nhau thế nào

Cùng là tráp ăn hỏi, ba miền lại có ba kiểu chuẩn số. Miền Bắc theo quan niệm trong chẵn ngoài lẻ: số tráp là số lẻ thường 7, 9 hoặc 11, đồ lễ bên trong phải theo cặp như hai gói chè, hai chai rượu, 20 cặp bánh.

Miền Trung chú trọng lễ nghi hơn vật chất, số tráp và lễ vật đều theo số chẵn 4, 6 hoặc 8, gồm mâm trầu cau 105 quả, mâm chè - rượu, mâm bánh phu thê và cặp nến tơ hồng thắp trên bàn thờ gia tiên nhà gái. Miền Nam cũng theo số chẵn từ 4 tới 12 lễ, có mâm xôi gấc, bánh xu xê và lễ vật dành riêng cho cô dâu như áo dài, trang sức do mẹ chồng chuẩn bị.

Ở miền Nam còn có tục nhà trai trình trước hai họ những món sính quan trọng như hoa tai, nhẫn ngay trong buổi đính hôn để được nhà gái chấp nhận sự hứa hôn. Kèm theo là nghi thức lễ lên đèn với hai ngọn đèn nến, cô dâu chú rể tự tay thắp lên bàn thờ gia tiên.

Đôi vợ chồng trẻ ở đầu bài gặp đúng chuyện này: nhà trai miền Bắc tính mang 9 tráp, nhà gái quê Nam quen 6 tráp. Cách giải là hai bên ngồi thống nhất một con số mà cả hai đều thấy vừa. Phong tục cưới hỏi Việt Nam vốn không có chuẩn số chung cho cả nước.

Đọc thêm: Lễ cưới truyền thống Việt Nam và nếp mới của giới trẻ

Chọn ngày và giờ hoàng đạo

Ngày giờ trong lễ cưới truyền thống được chọn rất kỹ. Xưa người ta chọn ngày bất tương, thiên hỷ, thiên đức hoặc nguyệt đức, còn giờ cưới luôn phải là giờ hoàng đạo.

Vì thế có nơi rước dâu vào ban đêm cho đúng giờ đã chọn, thay vì ban ngày như ngày nay. Chữ hôn trong hôn lễ vốn nghĩa là chiều hôm, bởi người xưa làm lễ cưới vào buổi tối. Tục rước dâu ban đêm vì thế là chuyện thường, chỉ để giữ đúng giờ lành đã định.

Hai cụ già ngồi đối diện bên bàn tròn gỗ, trên bàn có sổ giấy, hai chén trà, quạt gấp và đĩa hạt, sáng sớm
Ảnh minh họa

Xưa có chín nghi lễ, nay gọn lại

Đám cưới truyền thống xưa có tới chín nghi lễ quan trọng, chịu ảnh hưởng của sáu lễ cưới theo nếp Trung Hoa từ nạp tài tới thân nghinh. Trong số những lễ nay ít nhắc, có lễ cheo: nhà trai gửi lễ vật hoặc tiền đến xóm làng cô dâu để thông báo thành viên mới gia nhập, tổ chức trước hoặc sau lễ cưới một ngày.

Tuổi lấy vợ lấy chồng ngày xưa cũng sớm hơn bây giờ nhiều. Phan Kế Bính trong sách Việt Nam phong tục ghi rằng con trai con gái độ mười lăm, mười sáu tuổi đã là tuần sắp sửa cưới xin, có nhà cưới từ mười hai, mười ba tuổi, còn hai ba mươi tuổi mới cưới thì gọi là muộn. Dân gian cũng xếp cưới xin vào ba việc lớn của đời người, bên cạnh làm nhà và làm nên sự nghiệp, qua câu tậu trâu cưới vợ làm nhà.

Nghi lễ cưới hỏi ngày nay được tinh gọn còn dạm ngõ, ăn hỏi, xin dâu, cưới và lại mặt, và lễ ăn hỏi hiện nay bao hàm cả lễ dẫn cưới. Một số gia đình bỏ qua hoặc gộp lễ xin dâu cho đơn giản. Cô dâu hiện đại thường chuẩn bị hai tới ba bộ váy: áo dài trắng cho lễ xin dâu, váy cưới cho lễ rước dâu và tiệc.

Đọc thêm: Người trẻ vào lễ hội truyền thống đúng nếp để giữ gìn văn hóa

Lễ lại mặt

Lễ lại mặt, còn gọi là lễ nhị hỷ, khép lại trình tự của phong tục cưới hỏi Việt Nam. Mẹ chồng chuẩn bị một mâm lễ nhỏ để đôi vợ chồng mang về nhà gái tạ gia tiên, chào hỏi bố mẹ cô dâu và ở lại ăn cơm thân mật.

Thời gian lại mặt, các nguồn ghi khác nhau, từ một tới bốn ngày sau ngày cưới, không có con số chung. Xưa nếu nhà ở xa, có tục để sau bốn ngày, gọi là tứ hỷ. Mâm lễ cũng tùy nhà: nhà nghèo xưa chỉ cần ba lá trầu, ba quả cau, một nậm rượu; nhà khá giả thì thêm mứt sen, bánh kẹo, lợn quay, xôi gấc.

Một bà cụ tóc bạc quét sân bằng chổi trên con ngõ làng lúc chiều muộn
Ảnh minh họa

Về nhà chồng và lễ gia tiên

Bước cuối trong ngày cưới: về đến nhà trai, cô dâu chú rể được cha mẹ dẫn đến bàn thờ thắp hương yết tổ, rồi mới ra chào họ hàng bên chồng theo thứ tự. Lễ gia tiên là nghi thức báo cáo trước bàn thờ tổ tiên về việc con cháu lấy chồng hoặc đón cô dâu mới; trong lễ ăn hỏi lễ này chỉ diễn ra tại nhà gái, còn ngày cưới thì tiến hành ở cả hai gia đình.

Tiệc cưới không bắt buộc tổ chức ở nhà hàng hay ở nhà. Trường hợp tổ chức tại nhà, hai bên gia đình bàn bạc lên kế hoạch trước để làm lễ xin dâu, lễ gia tiên, chào hai họ, rước dâu, rót nước mời hai bên gia đình rồi cuối cùng chụp ảnh kỷ niệm.

Trước khi lo từng bước, hai họ nên ngồi hỏi thẳng người lớn: nhà mình giữ bước nào, bỏ bước nào, tráp lễ theo nếp quê nhà nên tính thế nào. Nghi lễ cưới hỏi của người Việt được giữ nhiều đời nhờ hai họ hỏi và thống nhất với nhau như vậy, hơn là nhờ một quyển sổ chung cho cả nước.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

chucmungnammoi.com