# Hiểu đúng phong cách thơ và cách nhận ra giọng riêng của nhà thơ

> Nhiều người nghĩ phong cách thơ chỉ là cách dùng từ, cách gieo vần cho lạ mắt. Theo sách Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên (NXB ĐHSP), phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng lẫn nghệ thuật, thứ chỉ nhà văn ưu tú mới đạt được, và không phải ai viết thơ cũng có nó.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/phong-cach-tho>
- Chuyên mục: Phong cách
- Tác giả: Ban Phong cách
- Ngày đăng: 24/10/2026
- Chủ đề: Phong cách thơ, Giọng điệu văn chương, Thơ Xuân Quỳnh, Chế Lan Viên, Thơ lãng mạn, Trường phái văn học
- Thời gian đọc: 12 phút

---

Hai người cùng viết về cơn mưa. Người này mô tả mái ngói ướt, giọt nước chảy theo mép hiên, đọc xong chẳng nhớ gì. Người kia mới viết ba câu mà người đọc đã thốt lên: câu này giống thơ của ai đó mình từng đọc. Khoảng cách giữa hai bản thơ ấy chính là điều bài này muốn nói rõ.

Nhiều người lầm tưởng phong cách thơ chỉ nằm ở lớp vỏ ngôn từ, ở cách gieo vần hay chọn chữ hiếm. Thực ra, sách Lí luận văn học (Phương Lựu chủ biên, NXB ĐHSP, 2011) định nghĩa phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng lẫn nghệ thuật, mang phẩm chất thẩm mĩ, chỉ hiện ra ở những nhà văn ưu tú. Không phải nhà văn nào cũng có phong cách; chỉ người có tài năng và bản lĩnh mới tạo được một tiếng nói mới cho văn học.

## Phong cách thơ là gì

Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mĩ: sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng và các phương tiện biểu hiện. Nó nói lên cái nhìn riêng của một nhà thơ, một tác phẩm, một trào lưu hay cả văn học dân tộc. Người ta thường hiểu phong cách theo hai góc nhìn: một bên là sự độc đáo về tư tưởng và nghệ thuật của nhà văn ưu tú, bên kia là hệ thống những đặc điểm về mặt hình thức. Hai góc nhìn ấy không loại trừ nhau, vì cái độc đáo về tư tưởng bao giờ cũng lộ ra qua hình thức.

Nguồn gốc của phong cách nằm ở cá tính sáng tạo của người viết: thế giới quan, tâm lí, khí chất, thậm chí cá tính sinh hoạt thường ngày. Nhưng phong cách không phải chuyện riêng của một người. Nó mang cả dấu ấn của dân tộc và thời đại, nên đọc thơ một thời kì, ta thấy nhiều giọng khác nhau mà vẫn nhận ra cùng một không khí chung.

Không phải ngẫu nhiên mà phong cách được xem là thước đo cao như vậy. Phong cách là dấu hiệu một nhà thơ đã trưởng thành, đồng thời là bằng chứng cả một nền văn học đã trưởng thành, bởi khi nhiều tiếng nói riêng biệt cùng xuất hiện, nền văn học ấy đã đủ sức nuôi những cá tính lớn. Nhà thơ nào viết cả đời mà chưa tìm được giọng riêng thì chưa chạm tới phong cách, dù kỹ thuật có vững đến mấy.

Trong tác phẩm, phong cách thơ hiện ra qua bốn dấu hiệu chính.

Trước hết là cái nhìn, cách cảm thụ cuộc đời giàu tính khám phá nghệ thuật. Kế đến là giọng điệu riêng gắn liền với cảm hứng sáng tác, thứ tiếng nói mà đọc vài dòng đã nhận ra tác giả. Rồi nét riêng trong lựa chọn đề tài, xác định chủ đề và đối tượng miêu tả. Cuối cùng là tính thống nhất, ổn định trong cách dùng các phương thức nghệ thuật: không lúc hay lúc dở một kiểu, dấu ấy giữ được xuyên suốt nhiều năm. Bốn biểu hiện này không tồn tại tách rời mà bao hàm lẫn nhau, tạo thành một chỉnh thể toàn vẹn trong tác phẩm.

Để thấy rõ phong cách thơ khác nhau thế nào, đặt cạnh nhau hai giọng thơ hậu chiến: Xuân Quỳnh và Chế Lan Viên. Với Xuân Quỳnh, chất giọng người đàn bà khát yêu, khát sống đã hiển lộ ngay từ tập thơ đầu tay Chồi biếc; trái tim phụ nữ ấy mẫn cảm với sự chảy trôi, đổi thay của đời thường. Sau chiến tranh, giọng khắc khoải ấy càng rõ ở hai tập Tự hát và Sân ga chiều em đi, cùng ra mắt năm 1984, góp phần đa dạng hóa gương mặt thơ Việt Nam thời hậu chiến. Nỗi lo của chị nhiều khi sâu xa hơn tình yêu thông thường, còn là âu lo về sự mai một, mất mát của những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống. Nhưng lo âu không làm chị bi quan; thơ Xuân Quỳnh vẫn tin tưởng, vẫn hy vọng.

Chế Lan Viên đi một con đường khác. Tập Điêu tàn ông viết lúc mới mười bảy tuổi, mang giọng ảo não, vừa đượm chút huyền bí lẫn màu sắc viễn phương, khác lạ trong thơ lãng mạn giai đoạn 1930-1945. Sau cách mạng tháng Tám, ông dứt khoát về nhận thức tư tưởng với cái tôi cũ, nhưng ở chỗ sâu kín nhất của hồn thơ, bóng tối của cái cũ vẫn náu lại, không dễ rũ sạch. Tập Ánh sáng và phù sa ra đời năm 1960, là tập thơ thứ hai của ông sau cách mạng, phản ánh cuộc sống mới và giằng xé giữa nỗi đau cũ với niềm vui mới. Bài Người đi tìm hình của Nước cũng viết trong năm ấy, nhân dịp kỉ niệm ba mươi năm thành lập Đảng, thể hiện rõ tư duy và bút pháp của ông. Cuối cùng Chế Lan Viên chọn lấy niềm vui và ánh sáng để đẩy lùi nỗi đau cũ, lấy ánh sáng lí tưởng làm vũ khí, lấy phù sa đời sống làm chất ngọt nuôi thơ.

Đặt hai giọng thơ cạnh nhau, sự khác biệt hiện ra rất rõ. Xuân Quỳnh giữ lấy đời thường, giọng khắc khoải mà ấm, lo mất mát nhưng vẫn tin; Chế Lan Viên dằn vặt giữa bóng tối cũ và ánh sáng mới, rồi chọn lí tưởng làm điểm tựa cho thơ mình. Cả hai viết sau chiến tranh, cùng hướng về ánh sáng, mà hai con đường thơ không trùng nhau một đoạn. Đó chính là phong cách.

## Nhận ra qua giọng điệu

Giọng điệu văn chương là yếu tố cơ bản thuộc phong cách nghệ thuật, giúp người đọc nhận ra vẻ riêng của nghệ sĩ. Nói đơn giản, đó là thứ âm thanh nội tâm nghe được qua chữ: buồn hay rạo rực, trầm hay vút lên, gần gũi hay xa cách. Nhà thơ có thể đổi đề tài, đổi thể loại, nhưng giọng điệu thường bám theo người viết như dáng đi, như giọng nói thường ngày.

Thơ Xuân Quỳnh là ví dụ rõ. Nét giọng ngày thường, đời thường là chủ âm giúp thơ chị tìm được chỗ đứng sau chiến tranh. Giọng khắc khoải âu lo ấy vẽ ra hình ảnh người phụ nữ đa đoan, mỏng manh trước giông bão cuộc đời, và cảm giác về thời gian, về sự hữu hạn của đời người là điều thường trực, mang đậm nữ tính nhất trong thơ chị. Truyền thống đi cùng hiện đại làm nên chất giọng riêng: không hẳn hiện sinh, cũng không đơn thuần là xúc cảm truyền thống. Bài Không đề chị viết tặng Lưu Quang Vũ là một dấu vết của giọng thơ ấy.

Còn với dòng thơ lãng mạn 1930-1945, Hoài Thanh từng nhận định chưa bao giờ thi ca Việt Nam phong phú như thời ấy. Ông điểm qua các hồn thơ mỗi người một dáng: rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên, tha thiết rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu. Chỉ vài chữ ngắn mà mỗi cái tên hiện lên một gương mặt riêng, không thể nhầm với ai. Đó là cách giọng điệu làm nên phong cách thơ, và cũng là cách người đọc nên luyện cho mình: đọc nhiều bài của một tác giả, rồi hỏi mình nghe thấy ai đang nói.

![Một phụ nữ trung niên ngồi nghiêng bên bàn gỗ nhỏ cạnh cửa sổ, cầm bút viết vào sổ mở, cạnh đó có chén trà](https://chucmungnammoi.com/covers/phong-cach-tho-minh-hoa-1-ggg8wm-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa*

## Phong cách và trường phái

Phong cách cá nhân cần tách khỏi trường phái văn học. Theo nghĩa rộng, trường phái thường được dùng để chỉ trào lưu văn học, như trường phái lãng mạn chủ nghĩa hay tự nhiên chủ nghĩa; theo nghĩa hẹp, nó chỉ những đặc trưng tiêu biểu mà một nhà văn vĩ đại để lại, được các nhà văn khác xem như trường học về quan điểm thẩm mĩ.[2] Phong cách thơ thuộc về một người; trường phái gom nhiều người chung một khuynh hướng, dù trong đó mỗi người vẫn giữ giọng riêng.

Lấy thơ lãng mạn chủ nghĩa làm ví dụ.[2] Tài liệu Ngữ văn 12 chỉ ra phong cách sáng tác lãng mạn qua bài Nhớ rừng của Thế Lữ, với cái tứ phổ quát: đối lập hiện thực với ước mơ, hiện tại với quá khứ, cái tầm thường với cái cao cả, cái nhân tạo với cái tự nhiên. Ở thơ lãng mạn, cái tôi trữ tình thường đối tượng hóa lòng mình để được tự ngắm, và nhãn quan tạo hình xuất hiện dày đặc chi tiết, khác với thơ cổ điển vốn tạo nhiều khoảng trống. Dòng thơ này còn đóng góp cho văn học mới một cái tôi cá thể hóa; Tố Hữu nhận xét phong trào thơ mới cất lên một nhu cầu mới: được tự do, được phát huy bản ngã. Trong cùng một trường phái ấy, Xuân Diệu ham sống mãnh liệt, khát khao giao cảm với đời, trong khi Hàn Mặc Tử hướng về Thượng Đế; thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu đẹp một cách tráng lệ nhưng buồn, còn Tràng giang của Huy Cận bắt nguồn từ cảm xúc trước cảnh sông nước Hồng Hà mênh mông.

Phong cách cũng không vận hành ngoài khuôn khổ thể loại. Ở Việt Nam, các thể loại thơ gồm lục bát, song thất lục bát, thơ Đường luật với thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, rồi thơ mới và thơ tự do; ngoại trừ thơ tự do, các loại còn lại đều có cấu trúc nhất định.[1] Chọn lục bát hay tứ tuyệt Đường luật, người viết phải chơi trong luật ấy, và chính cách biến khuôn cứng thành tiếng nói riêng là một phần của phong cách. Nguyễn Bính gọi là quê mùa mà vẫn nhận ra ngay, một phần nhờ giọng, một phần nhờ cách ông dùng khuôn lục bát theo ý mình.

## Cách tìm hiểu một nhà thơ

Nhiều sinh viên gặp bài tập thuyết trình về phong cách sáng tác của một trường phái hay một nhà thơ và bối rối không biết bắt đầu từ đâu. Tài liệu Ngữ văn 12 gợi ý chọn một trong hai lối: trình bày tổng quan về trường phái, hoặc phân tích dấu ấn của trường phái ở một tác phẩm cụ thể. Lối thứ hai thường thuyết phục hơn, vì người nghe được thấy phong cách thơ sống trong chữ, thay vì nghe một loạt khái niệm khô.

Nếu chọn trình bày tổng quan, cần đủ các ý: tên gọi của trường phái, quá trình hình thành, phát triển và tầm ảnh hưởng, thành tựu chính với các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, rồi đặc điểm nổi bật trong phong cách sáng tác. Còn khi phân tích một bài thơ, nên nhớ thơ là hình thức nghệ thuật dùng từ ngữ làm chất liệu, với sự chọn lọc và tổ hợp từ theo logic nhất định để tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mĩ.[1] Ở châu Âu, định nghĩa sớm nhất về thơ bắt đầu từ nhà triết học Hy Lạp Aristotle (384-322 TCN); ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao.[1] Đáng để ý là cách nhà thơ thổi sức sống vào vật vô tri bằng nhân cách hóa, như Trần Đăng Khoa viết Mặt bão: bão đến ầm ầm như đoàn tàu hỏa.

Công sức đằng sau mỗi bài thơ cũng đáng được nói tới khi phân tích. Quá trình làm thơ nhiều khi tương tự việc làm toán hoặc bố trận trong quân sự: người làm thơ phải tìm tòi từng từ có âm thanh hay, xác thực với tình cảm muốn truyền.[1] Một chữ thay cho một chữ, bài thơ đổi hẳn sắc mặt. Vì thế khi đọc một tác phẩm, đừng chỉ hỏi nhà thơ nói gì, mà hãy hỏi vì sao ông chọn đúng chữ ấy, đặt nó ở đúng vị trí ấy.

Một lưu ý cuối cho người phân tích: đừng bỏ qua tính nhạc và tính hội họa. Tính nhạc giúp bài thơ dễ được cảm nhận, và để có nhạc, người viết phải chọn từ có âm thanh hợp với cảm xúc.[1] Tính tạo hình là tính chất cơ bản khác: nhà thơ sống trong thế giới hình ảnh riêng, gần như thấy được màu sắc, mùi vị, sự chuyển động của vật thể.[1] Người đọc cũng nên kiểm tra mạch phát triển hình ảnh, từ nhỏ đến lớn, từ trầm đến thanh, vì nhiều bài thơ của thi sĩ nổi tiếng chỉ vì sắp xếp hình ảnh thiếu logic mà không được người đọc để ý. Ai muốn tìm hiểu lối sống và phong cách cá nhân ngoài trang thơ có thể ghé chuyên mục Phong cách của tạp chí.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

1. [Thơ](https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%A1) (Wikipedia)
2. [Trường phái văn học](https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%E1%BB%9Dng_ph%C3%A1i_v%C4%83n_h%E1%BB%8Dc) (Wikipedia)
