# Nghĩa thật của tục tập quán và khác biệt với phong tục tập quán

> Hơn một trăm năm trước, loạt bài của Phan Kế Bính đăng trên Đông Dương tạp chí những năm 1913-1914 ghi lại gần 100 phong tục, tập quán điển hình của người Việt, sau in thành sách Việt Nam phong tục. Trong khi sách xưa nói về phong tục, Bộ luật Dân sự 2015 lại định nghĩa riêng tập quán.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/nghia-that-cua-tuc-tap-quan-va-khac>
- Chuyên mục: Phong tục
- Tác giả: Ban Phong tục
- Ngày đăng: 28/10/2026
- Chủ đề: Phong tục Việt Nam, Bộ luật Dân sự, Tục tập quán, Phong tục tập quán, Tập quán là gì, Quy phạm xã hội
- Thời gian đọc: 12 phút

---

Gần một trăm năm qua, người Việt vẫn viết và nói lẫn lộn hai cụm từ: tục tập quán và phong tục tập quán. Trong giấy mời giỗ chạp, trong lời dặn của người lớn hay bài viết trên mạng, hai cách gọi ấy xuất hiện xen kẽ như thể là một. Nhiều người trẻ lần đầu tự lo một lễ, từ cúng giao thừa đến giỗ đầu, đều nghe cả hai cụm mà không biết khác nhau chỗ nào.

Nói rõ ra, phong tục tập quán là nếp sống, hành vi ứng xử được lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ, được cộng đồng công nhận và làm theo. Còn cụm từ tục tập quán, như phần cuối bài sẽ nói kỹ, chưa có nguồn đáng tin nào định nghĩa riêng, và trong cách dùng hàng ngày hai cụm thường thay nhau. Điều đáng nói là hiểu đúng từng tiếng trong cụm từ giúp người đọc biết vì sao một việc làm ở quê cha này có, mà ở xứ mẹ kia lại không.

## Nguồn gốc của hai tiếng này

Hai tiếng phong tục và tập quán vốn là hai khái niệm riêng, ghép lại thành một cụm quen thuộc. Theo Bách khoa toàn thư, phong tục bao gồm toàn bộ hoạt động sống của con người: hình thành qua một quá trình lịch sử, dần ổn định thành nề nếp, được cộng đồng thừa nhận rồi truyền lại cho đời sau. Còn tập quán, dưới góc độ ngôn ngữ, là thói quen đã ăn sâu bao đời, mọi người tuân theo như quy tắc ứng xử chung.

Ghép hai tiếng lại, phong tục tập quán chỉ những hành vi ứng xử, thói quen, nếp sinh hoạt tương đối ổn định, được một cộng đồng công nhận và lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Cách lưu truyền ấy không qua sách vở mà bằng truyền đạt và bắt chước trong giao tiếp hằng ngày. Vì thế một đứa trẻ lớn lên ở làng quê biết cúi chào người lớn trước khi vào nhà, không phải vì ai dạy qua sách, mà vì nhìn theo người thân làm mãi thành quen.

Sách về văn hóa của các nhà nghiên cứu gọi đây là những thói quen văn hóa có tính dân tộc và tính lịch sử, trở thành chuẩn mực được mọi người thừa nhận và tuân theo. Chuẩn mực ấy có khi mang tính bắt buộc trong cộng đồng, có khi chỉ là quy ước tự nguyện, tùy theo nếp của từng nơi.

Tập quán còn được nhìn từ góc độ pháp lý: thói quen đã thành nếp trong đời sống, trong sản xuất và sinh hoạt thường ngày, được cộng đồng có nếp ấy làm theo như quy ước chung.[4] Nếp trả giá ở chợ phiên, nếp bên bán giao hàng còn bên mua thanh toán nhận hàng theo thỏa thuận, đều thuộc loại này. Không ai ban hành, nhưng cả cộng đồng giao thương làm theo.

Còn phong tục thì đứng ở đâu? Các nguồn ghi rõ phong tục không cứng như nghi thức, nghi lễ, cũng không tùy tiện như việc làm thường ngày, mà trở thành một tập quán xã hội tương đối bền vững và tương đối thống nhất. Phong tục có thể tồn tại ở một dân tộc, một địa phương, một tầng lớp xã hội, thậm chí một dòng họ hay gia tộc, và là một bộ phận của văn hóa.

Người Việt xưa đã ghi lại nếp sống ấy một cách có hệ thống. Cuốn Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (1875-1921), đăng lần đầu trên Đông Dương tạp chí những năm 1913-1914, viết về gần 100 phong tục, tập quán điển hình của người Việt, chia làm ba chương: nếp trong gia tộc, nếp trong làng xã, và nếp trong xã hội nói chung. Ba chương ấy đúng là ba vòng tròn sống của người xưa: trong nhà, trong làng, ngoài xã hội. Đến nay, cuốn sách hơn một trăm năm tuổi vẫn được tái bản trang trọng, với các tranh lụa tơ tằm thủy mặc do họa sĩ Mạnh Quỳnh sáng tác trong giai đoạn 1980-1990.[2] Một cuốn sách về nếp cũ mà được họa sĩ hiện đại dành cả một chặng đường sáng tác để minh họa, đủ thấy nếp sống ấy vẫn còn chỗ đứng trong đời người Việt.

## Tập quán trong Bộ luật Dân sự

Tập quán đã bước vào văn bản pháp luật.[5] Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng, dùng để xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong một quan hệ dân sự cụ thể.[4] Quy tắc ấy phải hình thành và lặp lại nhiều lần trong thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc một lĩnh vực dân sự.[4] Định nghĩa này đặt tập quán vào vị trí có thể được dùng để giải quyết quan hệ dân sự khi pháp luật chưa quy định.

Vì sao pháp luật cần nhắc đến tập quán? Vì đời sống dân sự rộng hơn nhiều so với những điều luật viết được. Hai bên buôn bán ở chợ phiên lâu năm quen cách trả giá, cách giao hàng và nhận tiền theo nếp xưa. Đó là tập quán thương mại được cộng đồng làm theo như quy ước chung, không ai bắt buộc bằng văn bản. Khi có tranh chấp, nếp ấy có thể được nhắc tới vì nó rõ ràng, lặp lại nhiều lần và cả hai bên đều biết.

Ranh giới giữa tập quán với pháp luật nằm ở tính bắt buộc.[3] Pháp luật có tính bắt buộc chung và được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực Nhà nước; còn tập quán chủ yếu dựa vào sự tự giác hoặc dư luận xã hội để bảo đảm thực hiện.[3] Làm sai luật thì bị xử lý, làm lệch tập quán thì bị làng xóm nhắc nhở, dư luận chê. Quy phạm xã hội, trong đó có tập quán, hình thành tự phát trong quá trình phát triển của xã hội, không mang tính bắt buộc chung và không được bảo đảm thực hiện bởi pháp luật.[5]

Cũng cần phân biệt tập quán với đạo đức và các quy phạm xã hội khác: cả ba đều điều chỉnh hành vi con người trong phạm vi nhất định, nhưng tập quán gắn với nếp sinh hoạt của một cộng đồng cụ thể, còn pháp luật áp dụng chung cho mọi người trong nước. Một người có thể không vi phạm luật nào mà vẫn bị cộng đồng xem là không biết giữ nếp, và ngược lại.

![Hai người ngồi quay lưng bên mâm đồ ăn trên chiếc mẹt tròn có gà luộc, bánh gói lá và các đĩa nhỏ](https://chucmungnammoi.com/covers/nghia-that-cua-tuc-tap-quan-minh-hoa-1-gqwbal-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa*

## Khác nhau theo vùng và dân tộc

Phong tục tập quán luôn mang tính lịch sử, tính dân tộc, tính vùng miền, vì nó hình thành từ từ trong quá trình phát triển lịch sử của từng cộng đồng. Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc có những nếp riêng, và sự đa dạng ấy góp phần làm nên nền văn hóa đặc sắc của cả nước. Nếp sống của người Việt còn chịu ảnh hưởng của nền văn minh lúa nước, đề cao đoàn kết gia đình và hàng xóm. Từ gốc chung ấy, mỗi nơi mỗi xứ lại nảy sinh cách làm riêng của mình.

Lý do nếp mỗi nơi mỗi khác nằm ngay ở điều kiện sống. Tùy theo mỗi địa phương và tín ngưỡng khác nhau, phong tục tập quán ở mỗi cộng đồng, quần thể cũng có những sự khác biệt với nhau. Người sống ven sông có nếp của người ven sông, người trên cao có nếp của người trên cao, và tín ngưỡng riêng của từng tộc người làm nếp ấy càng khác hẳn.

Ở Lai Châu, người Dao đầu bằng quan niệm muốn được công nhận là con cháu tổ tiên thì phải qua lễ Tủ Cải, để linh hồn quy tụ về đất Tổ.[1] Ở Phú Thọ, đình Hùng Lô, xưa thuộc xã Hùng Lô, TP Việt Trì, gần 400 năm tuổi, vẫn lưu giữ văn hóa tín ngưỡng thờ Hùng Vương cùng phong tục tập quán của vùng đất đó.[1] Hai nếp ấy không thể đổi chỗ cho nhau: một bên là lễ của dân tộc Dao, một bên là tín ngưỡng của vùng đất Tổ.

Ra ngoài biên giới, nếp sống cộng đồng cũng hình thành theo cách riêng. Làng Piplantri (Ấn Độ) có tập tục trồng 111 cây xanh mỗi khi một bé gái được sinh ra; tục này do một cựu trưởng thôn khởi xướng sau khi con gái ông qua đời sớm, đến nay làng đã trồng được 250.000 cây. Một tục lệ như thế không có trong sách luật nào của Ấn Độ, nhưng cả làng làm theo suốt nhiều năm, đúng bản chất của một tập quán.

**Đọc thêm:** [Tập tục và tập quán khác nhau thế nào qua ví dụ người Việt](https://chucmungnammoi.com/tap-chi/tap-tuc-va-tap-quan)

## Phần nên giữ, phần nên bỏ

Không phải nếp cũ nào cũng đáng giữ nguyên. Phan Kế Bính khi viết về phong tục nước Việt đã chủ trương rõ ràng: bỏ tục dở, bổ tục hay, giữ tục tốt là quốc túy của dân tộc.[2] Ông nhìn tục lệ bằng con mắt phê phán, không phải bằng con mắt hoài cổ.

Tệ đoan lớn trong làng xã xưa, theo ông, là tục đề cao miếng ăn, cái gọi là trả nợ miệng: nhà nghèo vẫn phải lo ăn uống linh đình khi có hiếu hỉ để không bị làng chê.[2] Một gia đình cầm chắc cảnh chật vật mấy tháng sau đám cưới hay đám tang, chỉ vì sợ mất mặt. Phan Kế Bính còn phê phán các tục đồng bóng, gọi hồn, phù thủy, xem đất táng trục lợi trên tín ngưỡng của người dân.[2]

Cách nhìn ấy vẫn đúng với nhà hôm nay. Nếp kính trên nhường dưới, nếp cháu lo giỗ chạp cho ông bà là phần đáng giữ; phần lo ăn uống linh đình đến kiệt sức hay tin thầy bói bỏ tiền ra để đổi đất là phần nên bỏ. Giữ hay bỏ, quyết định thuộc về từng nhà, nhưng tiêu chuẩn thì sách cũ đã ghi sẵn.

![Một bà cụ đội khăn đỏ, áo xanh thẫm viền đỏ, đeo giỏ mây sau lưng đi bộ trên đường lát đá giữa hai dãy nhà gỗ](https://chucmungnammoi.com/covers/nghia-that-cua-tuc-tap-quan-minh-hoa-2-8elajf-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa*

## Giữ nếp trong đời sống hôm nay

Phong tục tập quán có chức năng riêng mà không thứ nào thay được: hướng dẫn hành vi ứng xử, giáo dục nhận thức cho thế hệ trẻ, và gắn bó mọi người trong nhóm xã hội. Một đứa trẻ biết bưng mâm cơm cho ông bà, biết dâng hương trước khi ra đi học xa, là đang được nếp cũ dạy dỗ mà không cần bài giảng nào. Chức năng ấy còn giúp người trong cộng đồng học cách sống và ứng xử phù hợp giữa người với người.

Điều kiện sống đã đổi, nếp cũng phải làm cho vừa. Nhà phố hẹp, chung cư không có sân, người xa quê không về được đúng ngày: những tình huống ấy đòi hỏi làm gọn phần lễ mà giữ nguyên phần nghĩa. Mâm cỗ giỗ đầu có thể bớt món, bàn thờ trong căn hộ có thể bày gọn, nhưng lòng thành với người đã khuất và sự gắn kết giữa người trong họ thì không bớt.

Với cặp dâu rể hai bên khác vùng, đang sống ở chung cư, chuyện nếp lệ dễ thành chuyện khó xử. Cách làm là hai họ ngồi lại, thỏa thuận làm lễ theo nếp bên nào gọn hơn, miễn giữ được lòng thành với cả hai họ. Nếp cũ sinh ra để gắn kết con người, chứ không phải để chia rẽ hai họ vì khác cách bày mâm quả.

**Đọc thêm:** [Phong tục thờ cúng tổ tiên và những gì cần sắm cho bàn thờ gia tiên](https://chucmungnammoi.com/tap-chi/phong-tuc-tho-cung-to-tien)

## Dùng hai cụm từ cho đúng

Quay lại câu hỏi ban đầu: tục tập quán khác phong tục tập quán thế nào? Tra các nguồn định nghĩa, chỉ có phong tục, tập quán và cụm đầy đủ phong tục tập quán được giải thích rõ; riêng cụm từ tục tập quán, chưa có nguồn đáng tin nào định nghĩa hay nêu điểm khác biệt cụ thể. Nghĩa là chưa ai khẳng định được hai cụm khác nhau về nghĩa.

Trong cách dùng hàng ngày, hai cách gọi thường được dùng thay nhau, và người đọc không cần lo dùng sai. Thử hình dung một gia đình soạn giấy mời giỗ chạp hay văn tự nhà họ: viết phong tục tập quán hay tục tập quán đều không sai nếp, vì cả hai đều chỉ nếp sống cộng đồng truyền lại. Điều đáng nhớ hơn là hiểu rõ mình đang làm việc gì theo nếp nào, hơn là cãi vã về cách gọi.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

1. [phong tục tập quán](https://vtv.vn/phong-tuc-tap-quan.html) (vtv.vn)
2. [Tìm hiểu phong tục tập quán nước Việt qua cuốn sách hơn 100 năm tuổi](https://www.sggp.org.vn/tim-hieu-phong-tuc-tap-quan-nuoc-viet-qua-cuon-sach-hon-100-nam-tuoi-post680525.html) (sggp.org.vn)
3. [Dấu hiệu phân biệt pháp luật với quy phạm đạo đức và quy phạm xã hội khác](https://aigiaoduc.thuvienphapluat.vn/dau-hieu-phan-biet-phap-luat-voi-quy-pham-dao-duc-va-quy-pham-xa-hoi-khac-2924tt.html) (aigiaoduc.thuvienphapluat.vn)
4. [Tập quán](https://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA%ADp_qu%C3%A1n) (Wikipedia)
5. [Quy phạm xã hội](https://vi.wikipedia.org/wiki/Quy_ph%E1%BA%A1m_x%C3%A3_h%E1%BB%99i) (Wikipedia)
