Chúc Mừng Năm Mới

Ngày lễ

Lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương qua hơn 2000 năm

Ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN, cho công chức nghỉ ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm để dự Giỗ Tổ Hùng Vương. Lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương vì thế được ghi lại bằng chính những văn bản của nhà nước.

14 phút đọc

Giỗ Tổ Hùng Vương là ngày lễ truyền thống của người Việt, tưởng nhớ công lao dựng nước của các vua Hùng. Lễ được tổ chức hằng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.1 Người Việt khắp nơi, từ đồng bào trong nước đến kiều bào ở nước ngoài, đều hướng về ngày này như một mốc chung của cội nguồn. Muốn hiểu lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, cần nhìn cả nghi lễ lẫn cách cả dân tộc giữ nếp nhớ nguồn qua hàng nghìn năm.

Câu ca dao “Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng mười tháng ba” đã đi vào lòng mỗi người dân Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Dù ở quê hay xa xứ, nhắc đến mồng mười tháng ba, ai cũng hiểu đó là ngày về nguồn.

Truyền thuyết 18 đời vua

Câu chuyện mở đầu nước Việt bắt đầu từ Lạc Long Quân và Âu Cơ, hai vị được xem là Thủy Tổ của người Việt, cha mẹ của các Vua Hùng. Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng nở thành trăm người con trai. Sau đó năm mươi con theo cha xuống biển, năm mươi con theo mẹ lên núi. Người con trai trưởng được truyền ngôi, lấy hiệu là Hùng Vương.1

Vua Hùng đặt tên nước là Văn Lang, lấy đất Phong Châu, nay thuộc Phú Thọ, làm thủ phủ. Truyền thuyết ghi Hùng Vương thứ nhất lên ngôi năm 2524 trước Công nguyên, chia nước làm mười lăm bộ. Dòng vua này truyền đến năm 258 trước Công nguyên thì bị Thục Phán, tức An Dương Vương, chiếm mất nước.1

Sử cũ ghi dòng họ cai trị đầu tiên là họ Hồng Bàng. Vua khai quốc tên thật là Lộc Tục, hiệu Kinh Dương Vương; con trai ông là Sùng Lãm, chính là Lạc Long Quân trong truyền thuyết. Lịch sử ghi lại được mười tám đời vua Hùng kéo dài trên hai nghìn năm, với vua cuối cùng là Hùng Tuyên Vương, tên thật Huệ Lang. Ngọc phả Hùng Vương cũng chép con số mười tám đời này.

Tuy nhiên, truyền thuyết và sử liệu cần được tách bạch khi kể cho con nghe.

Chuyện bọc trăm trứng được ghi chép lần đầu vào cuối đời Trần, trong Hồng Bàng Thị truyện thuộc sách Lĩnh Nam chích quái. Sau đó sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào Đại Việt Sử ký Toàn thư vào cuối thế kỷ XV.1 Tầng văn học và sử học này ra đời thời phong kiến, cách xa thời Hùng Vương hàng nghìn năm.

Trong khi đó, sử liệu Trung Quốc cho thấy danh xưng Hùng Vương xuất hiện trong sách Thái Bình quảng ký của thế kỷ X, dẫn lại Nam Việt chí khoảng thế kỷ V. Cựu Đường thư, viết năm 945, cũng chép vùng Giao Chỉ xưa có quân trưởng gọi là Hùng Vương. Người lớn khi kể chuyện cho con có thể chỉ cho các cháu thấy danh xưng này còn nằm trong sách cổ của nước ngoài. Từ đó, các cháu tự phân biệt được đâu là truyền thuyết, đâu là dấu vết trong sử liệu.

Nhờ cả hai tầng ấy, hình ảnh các vua Hùng trở thành điểm tựa tâm linh của người Việt. Đây cũng là nền tảng cho toàn bộ lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương về sau.

Ngôi vua có thể chưa rõ từng chi tiết, nhưng ý niệm về một thời dựng nước đầu tiên đã ăn sâu vào ký ức dân tộc. Ngày giỗ Tổ chính là dịp để ký ức ấy được nhắc lại mỗi năm một lần. Đó cũng là mốc khởi đầu của lịch sử ý nghĩa ngày giỗ Tổ mà người Việt giữ đến hôm nay.

Qua các triều đại

Hình thức sơ khai của ngày Giỗ Tổ đã xuất hiện cách đây hơn hai nghìn năm, theo một số tài liệu. Dưới thời Thục Phán, tức An Dương Vương, cột đá thề được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi lời thề trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn Hùng Vương trao lại. Từ đó, việc thờ cúng các vua Hùng trở thành một nếp được nối dài qua các triều đại.

Ngọc phả Hùng Vương viết thời Trần, được sao chép năm 1470 đời vua Lê Thánh Tông và năm 1601 đời vua Lê Kính Tông, đóng dấu kiềm để tại Đền Hùng. Bản phả nói rằng từ nhà Triệu, nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều Hồng Đức Hậu Lê vẫn cùng hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa. Ruộng đất, sưu thuế để cúng tế không thay đổi. Như vậy, nếp thờ cúng Hùng Vương được các triều đại phong kiến thừa nhận và bảo vệ bằng chính văn bản của triều đình.

Cách các triều đại giữ nếp thờ cúng còn thể hiện qua một chính sách rất thực tế. Từ thời Hậu Lê trở về trước, các triều đại giao Đền Hùng cho dân sở tại trông nom, sửa chữa, cúng bái và làm Giỗ Tổ ngày 10/3 âm lịch. Đổi lại, dân làng được miễn nộp thuế 500 mẫu ruộng, miễn đóng sưu, miễn đi phu đi lính.

Thử hình dung một người dân làng Trung Nghĩa đời Hậu Lê: cả đời không phải nộp sưu, không phải sung vào phu lính, việc duy nhất là mỗi năm lo trọn ngày giỗ cho đền. Nhà nước phong kiến không cử quan về lo lễ, mà trao việc thờ cúng cho chính những người sống cạnh núi Nghĩa Lĩnh.

Điều ít được kể lại là ngày Quốc lễ xưa không rơi vào mồng mười.

Bia Hùng Vương từ khảo do Tham tri Bùi Ngọc Hoàn, Tuần phủ Phú Thọ, lập năm Bảo Đại thứ 15, tức năm 1940, đặt ở Đền Thượng. Theo bia, trước đó Quốc lễ lấy vào mùa thu; ngày giỗ gốc là 11/3 âm lịch, do dân sở tại làm lễ cúng Hùng Vương đời thứ 18, còn mồng 10 chỉ là ngày trước ngày giỗ ấy một ngày. Tấm bia đá vì thế cho thấy lịch của ngày giỗ đã từng thay đổi, và mồng mười tháng ba chưa hề cố định từ ngàn xưa.

Ngày Quốc lễ dời hẳn từ mùa thu sang mồng 10 tháng 3 là chuyện của năm 1917, tức năm Khải Định thứ hai. Tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc trình bộ Lễ, xin lấy ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm làm ngày Quốc lễ, gọi là Quốc giỗ. Nội dung này được ghi trên chính tấm bia Hùng Vương từ khảo nói trên. Kể từ năm 1917, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm được chính thức hóa bằng luật pháp, thay cho lịch Quốc lễ mùa thu và ngày giỗ gốc 11/3 của dân làng.

Nhờ việc ấn định một ngày chung cho cả nước, ngày giỗ Tổ từ lễ của một làng trở thành lễ của cả dân tộc. Con đường ấy đi qua hơn hai nghìn năm, từ cột đá thề thời An Dương Vương, qua các bản ngọc phả thời Trần và Hậu Lê, đến công văn của một vị tuần phủ đầu thế kỷ XX. Vì thế, muốn hiểu lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, phải đọc cùng những tấm bia và bản phả còn lưu lại, chứ không thể gói trong một mốc năm duy nhất.

Bia đá cũ đặt trên lưng rùa đá trước bàn thờ gỗ với lư đồng, nến và một nén nhang đang cháy, nắng xuyên qua cửa sổ
Ảnh minh họa

Từ Sắc lệnh 1946 đến ngày nghỉ

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục nếp thờ cúng ấy bằng văn bản pháp luật mới. Ngày 18/2/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 22/SL-CTN, quy định công chức được nghỉ vào ngày 10/3 âm lịch hằng năm để cùng tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương. Đây là lần đầu ngày giỗ Tổ được ghi vào văn bản của một nhà nước mới ra đời.

Cũng trong năm Bính Tuất 1946, ngày Giỗ Tổ mang một dấu ấn đặc biệt. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Quyền Chủ tịch nước khi đó, mang lên Đền Hùng một tấm bản đồ Tổ quốc cùng một thanh gươm quý để dâng tổ tiên. Lễ dâng ấy nhằm cáo với tổ tiên về đất nước bị xâm lăng và cầu mong quốc thái dân an, đoàn kết đánh tan giặc xâm lăng. Giữa lúc nước nhà còn giặc ngoại xâm, lễ dâng hương mang ý nghĩa như một lời thề trước tổ tiên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh có hai lần về thăm Đền Hùng, vào ngày 19/9/1954 và ngày 19/8/1962. Tại đây, Người có câu nói nay đã quen thuộc với mọi người Việt: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước - Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Câu nói gắn việc nhớ nguồn với trách nhiệm giữ nước, trở thành tinh thần xuyên suốt của ngày giỗ Tổ thời hiện đại.

Nhà nước mới dần chuẩn hóa quy mô của lễ giỗ. Năm 1995, ngày Giỗ Tổ Hùng Vương được Ban Bí thư ghi trong thông báo là ngày lễ lớn trong năm. Nghị định số 82/2001/NĐ-CP ngày 6/11/2001 về Nghi lễ Nhà nước quy định rõ cách tổ chức theo từng năm. Năm chẵn, tức năm có chữ số cuối là 0, do Bộ Văn hóa - Thông tin và UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức lễ hội. Năm tròn, chữ số cuối là 5, do UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức. Còn năm lẻ do UBND tỉnh Phú Thọ tổ chức và mời lãnh đạo Bộ Văn hóa - Thông tin dự lễ dâng hương. Một người đi làm muốn biết năm nào lễ được tổ chức quy mô lớn chỉ cần nhìn chữ số cuối của năm là hiểu ngay.

Ngày 2/4/2007, Quốc hội thông qua việc sửa Điều 73 của Bộ luật Lao động: người lao động được nghỉ làm, vẫn hưởng nguyên lương, vào ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, tức mồng 10 tháng 3 âm lịch. Kể từ đây, ngày 10/3 âm lịch chính thức trở thành ngày nghỉ lễ của toàn thể người lao động, không riêng công chức như Sắc lệnh 1946.

Công nhận quốc tế cũng đến với tín ngưỡng này.

Ngày 6/12/2012, UNESCO chính thức công nhận “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Một nếp thờ bắt đầu từ lăng miếu trên núi Nghĩa Lĩnh nay được cả thế giới ghi nhận.

Lễ hội Đền Hùng

Lễ hội Đền Hùng, còn gọi là Giỗ Tổ Hùng Vương, thực chất kéo dài cả mười ngày, không gói trong một ngày chính lễ. Từ năm 1995, ngành Văn hóa thông tin - thể thao tổ chức lễ hội từ mùng 1 đến mùng 10 tháng 3 âm lịch. Trước ngày chính lễ hàng tuần, khu di tích đã rộn ràng các hoạt động văn hóa dân gian, để người dân từ nhiều nơi về kịp tham dự. Ai muốn tìm hiểu lịch sử ý nghĩa ngày giỗ Tổ qua chính chuyến đi của mình thì mười ngày ấy cho thấy lễ hội lớn ra sao.

Ngày chính lễ mồng 10 tháng 3, lễ hội kết thúc bằng lễ rước kiệu và dâng hương tại Đền Thượng, ngôi đền cao nhất trên núi Nghĩa Lĩnh. Xong lễ ở đền Thượng, các đại biểu và nhân dân tiếp tục thắp hương ở đền Quốc tổ Lạc Long Quân rồi đến đền mẫu Âu Cơ, hai ngôi đền cùng thuộc khu di tích. Dòng người lên núi vào buổi sáng thường rất đông, các gia đình nên đi sớm hoặc chọn buổi chiều để vãn cảnh và thắp hương thoải mái hơn.

Bên cạnh nghi lễ, không khí lễ hội còn có những hoạt động gắn với truyền thuyết. Người dân nấu bánh chưng, giã bánh dày, theo lời truyền kể về chiếc bánh của Lang Liêu thời Hùng Vương. Làng quê liên hoan hát Xoan, một loại hát cửa đình đã theo lễ hội suốt nhiều thế hệ. Trên sông Lô còn có bơi chải truyền thống.

Một nhà bốn thế hệ lên Đền Hùng sáng mồng 10, theo dòng người rước kiệu lên Đền Thượng dâng hương, chiều xuống đền mẫu Âu Cơ, giữa chừng cho các cháu xem giã bánh dày. Nhiều gia đình chọn đúng cách ấy để biến ngày giỗ thành một bài học lịch sử sống động cho con trẻ.

Ai muốn chọn thời điểm về Đất Tổ nên nhớ lễ hội kéo dài mười ngày, không nhất thiết dồn vào một ngày mồng 10.

Ngày chính lễ đông nhất và trang trọng nhất; các ngày trước vãn hơn, hợp với người già và trẻ nhỏ.

Một phụ nữ trung niên mặc áo dài xanh nhạt đứng nghiêng bên bát hương đồng lớn, tay cầm nén nhang đưa vào làn khói
Ảnh minh họa

Lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương với người Việt hôm nay

Ngày Giỗ Tổ là dịp giáo dục truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn các Vua Hùng có công dựng nước và các bậc tiền nhân chống giặc ngoại xâm giữ nước. Đây cũng là dịp quảng bá ra thế giới về một di sản đã tồn tại hàng nghìn năm, ăn sâu vào tâm hồn, tình cảm của đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài.

Trong hồ sơ đề trình UNESCO, giá trị của di sản Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được nêu là thể hiện lòng tôn kính đối với tổ tiên theo tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”. Di sản còn là biểu tượng của tinh thần đại đoàn kết dân tộc. Các chuyên gia UNESCO đánh giá di sản đáp ứng tiêu chí quan trọng nhất trong năm tiêu chí về giá trị nổi bật mang tính toàn cầu.

Về ngày được chọn làm Quốc giỗ, quan niệm dân gian và cách lý giải theo Dịch học của một số nguồn cho rằng số 3, tức tháng 3, tháng Thìn của con rồng, tượng trưng cho vua. Số 10 là can Kỷ đi hết một vòng trở về khởi đầu, nên mồng 10 tháng 3 nghĩa là “KỴ LONG”, tức ngày giỗ vua. Cách lý giải này mang màu sắc dân gian, đứng cạnh mốc lịch sử năm 1917 đã nói ở trên.

Hiểu được lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, người Việt hôm nay thấy rõ ngày mồng mười tháng ba là mốc để cả dân tộc quay về cội nguồn.

Đó là ngày nghỉ có gốc, có lý do, có câu chuyện để kể lại cho con cháu.

Với người con xa quê, giữ tinh thần ngày giỗ Tổ không cần lễ vật lớn. Mỗi mồng 10 tháng 3, chỉ cần gọi điện hỏi thăm ông bà, nhắc câu ca dao mồng mười tháng ba với các con, cũng đã là một cách nhớ nguồn đúng nghĩa.

Chuẩn bị ở địa phương

Trước ngày 10/3, công tác chuẩn bị lễ giỗ Tổ được triển khai ngay từ cấp cơ sở. Tại huyện Thanh Chương, Nghệ An, Ban tuyên giáo Huyện ủy ban hành Công văn số 188-CV/BTGHU, yêu cầu các cơ quan, đơn vị tổ chức tuyên truyền truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc trước ngày giỗ Tổ.

Theo cách làm ấy, một xã nhận công văn sẽ tổ chức buổi nói chuyện về các vua Hùng cho học sinh và người dân trước ngày giỗ, để cả làng cùng hiểu ý nghĩa dịp sắp tới. Việc chuẩn bị vì thế không dừng ở dọn dẹp nơi thờ tự, mà bắt đầu từ việc cho mọi người hiểu lịch sử ý nghĩa ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Ở những nơi có đền thờ Hùng Vương hay nhà văn hóa làng, buổi tuyên truyền thường gắn với sinh hoạt cộng đồng, giúp lớp trẻ nghe chuyện dựng nước ngay trên quê mình.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của Chúc Mừng Năm Mới.

Nguồn tham khảo

chucmungnammoi.com