# Trình tự giải quyết tranh chấp lao động từ hòa giải đến Tòa án

> Tranh chấp lao động, theo Điều 179 Bộ luật Lao động 2019, là bất đồng về quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa các bên khi xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ làm việc; cách giải quyết tranh chấp lao động hiện hành gồm hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động và Tòa án nhân dân.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/giai-quyet-tranh-chap-lao-dong>
- Chuyên mục: Giải trí
- Tác giả: Ban Giải trí
- Ngày đăng: 01/11/2026
- Chủ đề: Bộ luật Lao động, Tranh chấp lao động, Hòa giải lao động, Thời hiệu khởi kiện
- Thời gian đọc: 13 phút

---

Cuối tháng nhận lương, một công nhân đối chiếu với hợp đồng và thấy công ty trả thiếu so với điều đã ký: đó đã là tranh chấp lao động theo đúng nghĩa luật định. Điều 179 Bộ luật Lao động 2019 định nghĩa loại tranh chấp này là bất đồng về quyền, nghĩa vụ, lợi ích giữa các bên khi xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ làm việc. Cách giải quyết tranh chấp lao động hiện hành có ba phương pháp: hòa giải viên lao động, Hội đồng trọng tài lao động và Tòa án nhân dân, và hầu như trình tự nào cũng phải qua bước hòa giải trước.

Người lao động Việt Nam đi làm ở nước ngoài cũng nằm trong dòng chảy này. Tại Nhật Bản, mâu thuẫn thường gặp nhất của lao động nước ngoài là thiếu lương, không có hợp đồng rõ ràng, bị kỳ thị và bất đồng về giờ làm cùng thời gian nghỉ ngơi. Hiểu trình tự vì thế là việc cần làm ở bất cứ đâu.

## Khái niệm và các loại tranh chấp

Luật chia tranh chấp lao động thành hai nhóm lớn. Nhóm thứ nhất là tranh chấp cá nhân: một người lao động đối chất với người sử dụng lao động, với doanh nghiệp đưa mình đi làm ở nước ngoài, hoặc người lao động thuê lại với bên đã thuê lại mình. Cái lương thiếu trong ví dụ mở đầu thuộc nhóm này.

Nhóm thứ hai là tranh chấp tập thể, giữa tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc tổ chức của họ, và lại chia làm hai loại. Thử hình dung một nhóm nhân viên cùng phàn nàn công ty hiểu sai điều khoản lương trong thỏa ước lao động tập thể: đó là tranh chấp tập thể về quyền, vì mâu thuẫn nằm ở cách hiểu và thực hiện thỏa ước, nội quy lao động, quy chế hay pháp luật. Còn tranh chấp tập thể về lợi ích là bất đồng phát sinh khi thương lượng tập thể, hoặc khi một bên từ chối, không tiến hành thương lượng đúng thời hạn luật định. Nói ngắn gọn: tranh chấp về quyền nhìn về điều đã thỏa thuận; tranh chấp về lợi ích hướng tới điều mới mà tập thể muốn đạt thêm.

## Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động

Điều 180 Bộ luật Lao động đặt ra các nguyên tắc cho toàn bộ quá trình: tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, coi trọng hòa giải và trọng tài, công khai minh bạch, đúng pháp luật. Không ai tự động đứng ra xử lý nếu người trong cuộc không muốn: việc giải quyết chỉ tiến hành khi có yêu cầu của bên tranh chấp, hoặc đề nghị của cơ quan có thẩm quyền được các bên đồng ý.

Hòa giải được ưu tiên xuyên suốt và là thủ tục bắt buộc ở hầu hết các trình tự, với thời hạn ngắn hơn các loại tranh chấp khác. Lý do rất đời thường: thương lượng qua trung gian tiết kiệm thời gian, chi phí và giúp hai bên giữ được quan hệ làm việc sau tranh chấp, điều một phiên tòa gay gắt khó làm được. Một điểm đặc thù nữa là quá trình giải quyết phải có đại diện công đoàn và đại diện người sử dụng lao động tham gia, khác với tranh chấp dân sự thông thường. Dù vậy, hòa giải có hiệu quả hay không phụ thuộc thiện chí của các bên và mức độ am hiểu của người hòa giải về mâu thuẫn, mục tiêu của mỗi bên.

![Hai người phụ nữ, một trẻ một già, ngồi và đứng bên bàn may xem cuốn sổ mở, ánh sáng ấm từ cửa sổ chiếu vào xưởng](https://chucmungnammoi.com/covers/giai-quyet-tranh-chap-lao-dong-minh-hoa-1-1ism4l-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Bước thương lượng và hòa giải

Bước đầu tiên không nằm ở cơ quan nào cả, mà ngay tại nơi làm việc: hai bên thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp với nhau. Việc này được thực hiện cả trước và sau khi các bên gửi đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền, vì nếu tự thỏa thuận được thì mọi trình tự phía sau đều không cần nữa.

Thương lượng không đi tới đâu, người lao động gửi đơn yêu cầu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc hòa giải viên lao động. Doanh nghiệp có công đoàn cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn lâm thời sẽ lập hội đồng này, với số người đại diện hai bên ngang nhau. Chưa có hội đồng ở cơ sở, đơn sẽ đến hòa giải viên cấp huyện. Với tranh chấp cá nhân, phiên hòa giải phải diễn ra chậm nhất 7 ngày kể từ ngày nhận đơn, và phiên họp phải có mặt hai bên hoặc đại diện được ủy quyền. Riêng hòa giải viên thì phải kết thúc trong 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận yêu cầu.

Nộp đơn qua đâu cũng được. Gửi qua cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân, tức Phòng hoặc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, thì cơ quan này có trách nhiệm chuyển đến hòa giải viên trong 5 ngày làm việc. Nhân viên bị thiếu lương hoàn toàn có thể chọn cách này nếu công ty không có hội đồng hòa giải.

Thời hiệu gửi đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp cá nhân là 6 tháng, tính từ ngày người lao động phát hiện hành vi mà mình cho rằng quyền lợi hợp pháp bị vi phạm. Quá thời điểm đó, yêu cầu có thể không được chấp nhận. Trừ khi có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định pháp luật khiến không thể yêu cầu đúng hạn: thời gian đó không tính vào thời hiệu.

Kết quả phiên hòa giải được ghi thành biên bản. Hòa giải thành thì hai bên có nghĩa vụ chấp hành thỏa thuận ghi trong biên bản, bản sao phải gửi cho hai bên trong 1 ngày làm việc kể từ ngày lập. Nếu hòa giải không thành, hết 5 ngày làm việc mà hòa giải viên không tiến hành, hoặc một bên không thực hiện thỏa thuận đã lập, thì mỗi bên có quyền chuyển sang bước tiếp theo. Lưu ý: một số tranh chấp cá nhân được luật cho bỏ qua bước này và khởi kiện thẳng, sẽ nói ở mục Tòa án.

**Đọc thêm:** [Luật tranh chấp đất đai: trình tự giải quyết và những lỗi khiến đơn bị trả](https://chucmungnammoi.com/tap-chi/luat-tranh-chap-dat-dai)

## Hội đồng trọng tài lao động

Bước thứ hai là Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, nhiệm kỳ 5 năm, gồm ít nhất 15 trọng tài viên. Trong đó, tối thiểu 5 do cơ quan chuyên môn về lao động đề cử, 5 do công đoàn cấp tỉnh đề cử, 5 do các tổ chức đại diện người sử dụng lao động trên địa bàn đề cử. Danh sách này bảo đảm cả ba tiếng nói đều có mặt khi phán xử.

Khi nhận yêu cầu, Hội đồng thành lập Ban trọng tài lao động: mỗi bên chọn 1 trọng tài viên từ danh sách, hai trọng tài viên này thống nhất chọn thêm 1 người làm Trưởng Ban; nếu hai bên cùng chọn một trọng tài viên thì Ban chỉ gồm đúng 1 người. Ban làm việc theo nguyên tắc tập thể và quyết định theo đa số.

Điểm đáng chú ý nhất của trọng tài lao động là chỉ giải quyết một lần: phán quyết là quyết định cuối cùng, có giá trị ràng buộc, chung thẩm, có hiệu lực thi hành, không bị kháng cáo, kháng nghị. So với tòa án, trọng tài được ghi nhận là nhanh chóng, đơn giản, thuận tiện hơn. Muốn Hội đồng trọng tài thụ lý tranh chấp cá nhân, phải nộp đơn trong 9 tháng kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Tình huống thường thấy: hòa giải không thành vì công ty không chịu bồi thường, người lao động nộp đơn tại Hội đồng trọng tài của tỉnh nơi công ty đặt trụ sở chính. Căn cứ pháp lý gồm Bộ luật Lao động và Nghị định 145/2020/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 35/2022/NĐ-CP.

## Trình tự tranh chấp tập thể về quyền

Đây là phần nhiều hướng dẫn hay bỏ sót, dù trình tự chi tiết nhất lại nằm ở đây. Tranh chấp tập thể về quyền phát sinh khi hai bên hiểu và thực hiện khác nhau thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động, quy chế, thỏa thuận hợp pháp khác hay pháp luật lao động. Hoặc khi người sử dụng lao động phân biệt đối xử với người lao động, thành viên ban lãnh đạo tổ chức đại diện, can thiệp, thao túng tổ chức đó, kể cả việc phân biệt đối xử vì người lao động tham gia tổ chức đại diện.

Hòa giải đi trước. Hòa giải viên phải chốt việc này trong 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận yêu cầu từ bên yêu cầu hoặc từ cơ quan quản lý nhà nước về lao động. Tại phiên họp, người hòa giải hướng dẫn, hỗ trợ các bên thương lượng; hai bên thỏa thuận được hoặc chấp nhận phương án thì lập biên bản hòa giải thành. Phương án không được chấp nhận, hoặc một bên được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không lý do chính đáng, thì lập biên bản hòa giải không thành. Bản sao biên bản được gửi các bên trong 1 ngày làm việc.

Giả định công đoàn cơ sở và công ty bất đồng cách hiểu một điều khoản thưởng trong thỏa ước: sau 5 ngày làm việc, hòa giải viên lập biên bản không thành, vụ việc chuyển sang Hội đồng trọng tài lao động cấp tỉnh. Ba trường hợp được chuyển gồm hòa giải không thành; hết thời hạn hòa giải mà hòa giải viên không tiến hành; hoặc một bên không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành.

Ở cấp trọng tài, Ban trọng tài lao động phải được thành lập trong 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận yêu cầu. Trong 30 ngày kể từ ngày được thành lập, Ban phải ra quyết định giải quyết tranh chấp, căn cứ vào pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động đã đăng ký, quy chế và thỏa thuận hợp pháp khác, rồi gửi cho các bên. Nếu Hội đồng trọng tài hòa giải không thành, Hội đồng ra quyết định giải quyết và thông báo ngay cho hai bên. Hai bên không có ý kiến thì quyết định có hiệu lực thi hành. Tập thể lao động không đồng ý thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết hoặc tiến hành đình công; người sử dụng lao động có quyền yêu cầu Tòa án xét lại quyết định của Hội đồng trọng tài.

Một quy định quan trọng cần nhớ: khi các bên đã chọn Hội đồng trọng tài giải quyết tranh chấp tập thể về quyền, trong thời gian Hội đồng đang giải quyết, các bên không được đồng thời yêu cầu Tòa án. Chỉ khi hết thời hạn mà Ban trọng tài không được thành lập hoặc không ra quyết định, hoặc một bên không thi hành quyết định của Ban, các bên mới được đưa vụ việc ra Tòa án. Thời hiệu từng cấp cũng khác nhau: 6 tháng yêu cầu hòa giải viên, 9 tháng yêu cầu Hội đồng trọng tài, 1 năm yêu cầu Tòa án, cùng tính theo Điều 191 và Điều 194 Bộ luật Lao động 2019.

![Trên bàn gỗ có một đồng hồ tròn để bàn, chồng hồ sơ màu be và chậu cây nhỏ, ánh sáng ban mai từ cửa sổ bên cạnh](https://chucmungnammoi.com/covers/giai-quyet-tranh-chap-lao-dong-minh-hoa-2-9uzzwc-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Khi nào ra Tòa án

Tòa án nhân dân là bước cuối và cũng là nơi có sức mạnh lớn nhất. Hết 5 ngày làm việc mà hòa giải không tiến hành, hòa giải không thành, hoặc một bên không thực hiện thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành, các bên có quyền yêu cầu Tòa án. Muốn khởi kiện tranh chấp cá nhân tại đây, phải làm trong 1 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, không phải tranh chấp cá nhân nào cũng bắt buộc qua hòa giải. Danh sách được khởi kiện trực tiếp gồm:

Tranh chấp về xử lý kỷ luật sa thải hoặc bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.[1] Tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động. Tranh chấp giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động. Tranh chấp về các loại bảo hiểm: xã hội, y tế, thất nghiệp, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Tranh chấp giữa người lao động thuê lại với bên đã thuê lại mình.

Nói cách khác, một người bị sa thải có thể nộp đơn ra Tòa án ngay, không cần chờ hòa giải viên. Điều khoản bồi thường thiệt hại không bắt buộc hòa giải còn được hiểu theo hai nhánh: bồi thường, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng giữa người lao động với người sử dụng lao động, và bồi thường giữa người lao động với doanh nghiệp đưa người đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng.

Lý do Tòa án bảo vệ quyền lợi người lao động hiệu quả hơn giải quyết tại cơ sở nằm ở bản chất của bản án: người sử dụng lao động buộc phải tuân thủ, vì bản án, quyết định của tòa mang tính cưỡng chế nhà nước, không thi hành thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.[1] Không một biên bản hòa giải nào có được điểm đó. Trình tự ba bước hòa giải, trọng tài, tòa án vì thế được sắp xếp từ mềm nhất đến cứng nhất, để hai bên có nhiều cơ hội tự giải quyết trước khi việc gì cũng phải theo phán quyết.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Hỏi đáp nhanh

### Người lao động làm việc tại Nhật Bản thường gặp tranh chấp lao động nào?

Các tranh chấp phổ biến tại Nhật Bản gồm thiếu lương, không có hợp đồng rõ ràng, kỳ thị và bất đồng về giờ làm cùng thời gian nghỉ ngơi. Về giờ làm, Nhật quy định bình thường 8 tiếng mỗi ngày, 40 tiếng mỗi tuần và tối đa 2087 giờ mỗi năm; làm thêm không quá 50% số giờ thường, tức không quá 12 tiếng mỗi ngày, làm quá 8 tiếng một ngày đã bị coi là vi phạm pháp luật. Người lao động Việt Nam ở Nhật thuộc nhóm tranh chấp cá nhân với doanh nghiệp đưa người đi làm ở nước ngoài.

## Nguồn tham khảo

1. [Tranh chấp lao động](https://vi.wikipedia.org/wiki/Tranh_ch%E1%BA%A5p_lao_%C4%91%E1%BB%99ng) (Wikipedia)
