# Địa hình Việt Nam có bao nhiêu loại và ví dụ từng vùng rõ ràng

> Nhìn bản đồ địa hình Việt Nam, ta dễ nhận ra ba dạng địa hình chính hiện diện khắp đất nước, mỗi dạng lại mang những nét đặc trưng và vai trò riêng trong đời sống con người.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/dia-hinh-viet-nam-co-bao-nhieu-loai>
- Chuyên mục: Học & lớn lên
- Tác giả: Ban Học & lớn lên
- Ngày đăng: 18/10/2026
- Chủ đề: Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên, Địa hình Việt Nam, Đồi núi Việt Nam, Trung du
- Thời gian đọc: 9 phút

---

Ai từng mở trang Địa lý lớp 12 đều nhớ câu hỏi quen thuộc: địa hình Việt Nam có bao nhiêu loại và mỗi loại tiêu biểu ở đâu. Câu trả lời không khó, nhưng cách chia lại có vài tầng, nên nhiều bạn học xong vẫn nhầm khi làm bài.

Nguồn tổng hợp bản đồ địa hình nêu ba dạng chính gồm đồi núi, đồng bằng và cao nguyên. Sách giáo khoa Địa lý 12 đi sâu hơn, chia theo khu vực: đồi núi, địa hình bán bình nguyên và vùng đồi trung du, rồi đồng bằng. Hai cách chia không mâu thuẫn nhau; một bên nhìn nhanh toàn cảnh, một bên tách riêng vùng chuyển tiếp giữa núi và ruộng đồng để dễ mô tả. Ngoài ba dạng chính ấy, sách giáo khoa địa lý còn cho biết nước ta có nhiều kiểu loại địa hình, gồm đồi núi, đồng bằng, bờ biển và thềm lục địa. Vì thế, tùy đề bài và tùy cách nhìn toàn cảnh hay chi tiết, người học sẽ chọn cách phân loại cho phù hợp.

## Đồi núi và cao nguyên

Đồi núi là dạng địa hình rộng nhất nước ta, chiếm khoảng ba phần tư diện tích lãnh thổ, còn đồng bằng chỉ chiếm khoảng một phần tư. Phần lớn đồi núi thuộc loại thấp: địa hình dưới 1.000 m chiếm tới 85% diện tích, còn núi cao trên 2.000 m chỉ chiếm 1%. Vì thế, ví dụ địa hình núi ở Việt Nam thường là các dãy thấp, bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, chứ ít khi là dãy núi khổng lồ tuyết phủ.

Về sự phân bố, đồi núi tập trung chủ yếu ở Tây Bắc, Đông Bắc và dãy Trường Sơn. Địa hình bị chia cắt mạnh và độ dốc lớn ở những khu vực này giải thích vì sao đi lại giữa các thung lũng miền núi thường phải vòng vèo, và vì sao nhiều bản làng nằm rải rác trên các sườn dốc thay vì tụ về một nơi. Theo hướng phân chia của sách giáo khoa, khu vực đồi núi gồm bốn vùng núi chính: Đông Bắc nằm từ tả ngạn sông Hồng đến biên giới phía Bắc, Tây Bắc nằm giữa sông Hồng và sông Cả, rồi Trường Sơn Bắc kéo từ nam sông Cả tới dãy Bạch Mã, và cuối cùng là Trường Sơn Nam.

Trong bốn vùng ấy, vùng Tây Bắc có địa hình cao nhất nước, với ba mạch núi và cao nguyên, sơn nguyên cùng chạy theo hướng tây bắc, đông nam; dãy Hoàng Liên Sơn ở đây có nhiều đỉnh cao trên 2.000 đến 3.000 m. Đỉnh Fansipan thuộc dãy này cao 3.143 m, được gọi là nóc nhà Đông Dương. Đông Bắc thấp hơn hẳn, chủ yếu là núi thấp và đồi trung bình, các dãy núi có dạng cánh cung mở ra phía Bắc và Đông, độ cao trung bình 500 đến 1.000 m. Còn dãy Trường Sơn chạy dài như xương sống từ Bắc vào Nam. Ở đoạn Trường Sơn Bắc, sườn Tây thoải còn sườn Đông dốc, nên đồng bằng ven biển miền Trung nhỏ và hẹp, nhiều nơi chiều ngang chỉ rộng 40 đến 50 km từ biển vào núi.

Địa hình cao nguyên Việt Nam tập trung ở Tây Nguyên, nơi có độ cao trung bình 500 đến 1.500 m, mặt đất tương đối bằng phẳng, xen kẽ các cao nguyên bazan màu mỡ thuận lợi cho nông nghiệp. Tây Nguyên gồm hệ thống cao nguyên xếp tầng: Kon Tum cao khoảng 500 m, Pleiku khoảng 800 m, còn Lâm Viên cao khoảng 1.500 m. Vùng núi Trường Sơn Nam có hướng vòng cung ôm lấy các cao nguyên này, phía tây là các cao nguyên bazan Plây Ku, Đắk Lắk, Mơ Nông, Di Linh, mặt địa hình bằng phẳng, cao 500, 800 rồi 1.000 m theo từng bậc. Chính sự xếp tầng này khiến ai đi từ Pleiku lên Đà Lạt đều cảm nhận rõ từng bậc địa hình tăng dần độ cao.

Ngoài Tây Nguyên, vùng núi phía Bắc cũng có cao nguyên Mộc Châu, và cao nguyên đá Đồng Văn, một cao nguyên karst đá vôi chứ không phải cao nguyên bazan. Khí hậu nóng ẩm gió mùa khiến nước mưa hòa tan đá vôi, tạo nên địa hình các-tơ nhiệt đới với nhiều hang động độc đáo. Đây là kiểu địa hình rất riêng của nước ta: cùng là đá, nhưng Đồng Văn cho ta sườn núi đá vôi dựng đứng và thung lũng khô, khác hẳn mặt bazan phẳng phủ đất đỏ ở Tây Nguyên. Khi làm bài, cần phân biệt tên địa hình với tên tỉnh: không nên gọi Gia Lai hay Lâm Đồng là các cao nguyên, mà dùng đúng tên dạng địa hình như Pleiku, Lâm Viên, Di Linh.

Một nét chung của cả khu vực đồi núi: địa hình nước ta thấp dần theo hướng tây bắc, đông nam, do vận động Tân kiến tạo và tạo núi Himalaya nâng mặt đất thành nhiều bậc kế tiếp nhau. Chính vì thế mà hai hướng chủ yếu của địa hình là tây bắc, đông nam và hướng vòng cung. Nắm được quy luật này, khi nhìn bản đồ bạn có thể đoán ngay một dãy núi chạy theo hướng nào, thay vì phải học thuộc từng dãy.

## Đồng bằng lớn

Địa hình đồng bằng Việt Nam gồm hai vùng lớn nhất là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, đều được bồi tụ bởi phù sa, mặt đất thấp và bằng phẳng. Hai đồng bằng này là nơi tập trung ruộng lúa, làng xóm và đô thị đông đúc nhất cả nước, cũng là nơi người ta dễ thấy rõ quan hệ giữa sông ngòi và đất đai.

Đồng bằng sông Hồng có cao độ trung bình dưới 10 m, đóng vai trò trung tâm nông nghiệp lúa nước và các đô thị lớn như Hà Nội. Vùng đất này được sông Hồng bồi đắp qua hàng nghìn năm, nên quanh mùa lụt, câu chuyện nước phù sa bồi ruộng vẫn là nếp sống quen thuộc của người Bắc Bộ. Rìa phía Bắc và phía Tây đồng bằng còn có dải đồi trung du rộng nhất nước, thu hẹp dần ở rìa đồng bằng ven biển miền Trung.

Đồng bằng sông Cửu Long nằm ở cực Nam, nhiều nơi chỉ cao dưới 2 m so với mực nước biển, với mạng lưới kênh rạch chằng chịt. Chính độ cao thấp ấy vừa tạo ra lợi thế canh tác lúa nước quanh năm, vừa khiến vùng đất dễ bị ngập lụt và xâm nhập mặn; đây là vựa lúa lớn nhất Việt Nam. Ai từng đi miền Tây đều thấy khác biệt rõ: thay vì đê cao như đồng bằng Bắc Bộ, nơi đây người ta đi lại bằng bến nước, phà và kênh đào.

Ngoài hai đồng bằng lớn, đất nước còn có dải bờ biển dài 3.260 km với vùng duyên hải và hải đảo như Quảng Ninh, Khánh Hòa, Phú Quốc, Trường Sa, Hoàng Sa. Các đồng bằng ven biển miền Trung nhỏ và hẹp, nằm kẹp giữa Trường Sơn và biển, nên mỗi dải đất bằng phẳng ở đây đều quý giá cho cư dân và ruộng vườn. Cũng vì kẹp giữa núi và biển mà đường quốc lộ, đường sắt Bắc Nam ở miền Trung thường chạy sát ven biển, ít có chỗ mở rộng.

Thiên nhiên tạo nên các dạng địa hình, nhưng con người cũng góp phần ngày càng nhiều với các dạng địa hình nhân tạo như đô thị, hầm mỏ, đê, đập và kênh rạch. Ở đồng bằng, hệ thống đê sông, đê biển và mạng kênh đào là ví dụ dễ thấy nhất, gắn chặt với đời sống sản xuất của cư dân vùng thấp. Khi trả lời câu hỏi địa hình Việt Nam có bao nhiêu loại, đừng quên lớp địa hình nhân tạo này, vì nó đã hiện diện khắp nơi, từ núi khai mỏ đến ruộng kênh đào.

![Đồng bằng sông Cửu Long với ruộng lúa xanh, kênh rạch và nông dân đội nón lá nhìn ra cánh đồng](https://chucmungnammoi.com/covers/dia-hinh-viet-nam-co-bao-minh-hoa-1-09b93i-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa*

## Vùng chuyển tiếp trung du

Trung du là vùng địa hình chuyển tiếp nằm giữa thượng du, tức vùng núi cao, và hạ du, tức vùng đồng bằng thấp; đặc trưng của vùng là đồi núi thấp lượn sóng xen kẽ thung lũng, độ cao trung bình từ 25 đến 100 m so với mực nước biển.[1] Nếu phân theo vị trí dọc sông, thượng du là phần cao nhất gần nguồn sông, dốc hiểm trở như vùng núi cao Tây Bắc; hạ du là phần thấp nhất gần cửa sông, bằng phẳng như đồng bằng sông Hồng hay đồng bằng sông Cửu Long.[1] Còn trung du nằm ở khoảng giữa, nơi đồi đã thấp đi và thung lũng rộng dần ra.[1]

Địa hình đồi trung du phần nhiều do dòng chảy chia cắt các thềm phù sa cổ tạo thành. Ví dụ gần gũi nhất là vùng trung du miền núi phía Bắc với các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, nơi đồi gò thoai thoải xen thung lũng nhỏ; cụ thể, vùng đồi Phú Thọ, Thái Nguyên là một ví dụ điển hình của kiểu địa hình này.[1] Ai từng đi qua Phú Thọ vào mùa xuân sẽ nhận ra ngay cảnh này: đồi chè trải theo bậc, thung lũng trồng lúa, nhà cửa nằm rải trên gò. Bên cạnh đó, Đông Nam Bộ có địa hình bán bình nguyên gồm bậc thềm phù sa cổ cao khoảng 100 m và bề mặt phủ bazan cao chừng 200 m, được xếp cùng nhóm với đồi trung du là dạng địa hình chuyển tiếp.

Vùng chuyển tiếp này dễ bị bỏ qua khi học, nhưng lại là chỗ nhiều câu hỏi thi hay đánh đố: SGK Địa lý 12 tách trung du thành khu vực riêng, không gộp chung với đồi núi. Nắm được điểm ấy, bạn sẽ trả lời chính xác hơn khi đề hỏi về các khu vực địa hình của nước ta. Đây cũng là chìa khóa để hiểu vì sao cùng một câu hỏi địa hình Việt Nam có bao nhiêu loại, có tài liệu trả lời ba, có sách giáo khoa lại chia thành nhiều khu vực hơn: mỗi cách chia phục vụ một mục đích khác nhau, và người học giỏi là người biết chọn đúng cách chia cho từng đề bài.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

1. [Trung du là gì vùng đất chuyển tiếp độc đáo](https://www.yeudialy.edu.vn/trung-du-la-gi) (yeudialy.edu.vn)
