# Cách tính thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài tại Việt Nam

> Theo Công văn 13134/CTHN-TTHT ngày 26/4/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội, người nước ngoài chỉ cần đáp ứng một trong các điều kiện cư trú tại Điều 1 Thông tư 111/2013/TT-BTC là đủ diện cá nhân cư trú. Vì thế, cách tính thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài chia làm hai đường: cư trú chịu thuế lũy tiến từng phần, không cư trú chịu thuế suất cố định.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/cach-tinh-thue-thu-nhap-ca-nhan-cho>
- Chuyên mục: Tiền & nghề
- Tác giả: Ban Tiền & nghề
- Ngày đăng: 17/10/2026
- Chủ đề: Giảm trừ gia cảnh, Quyết toán thuế, Cá nhân cư trú, Cá nhân không cư trú
- Thời gian đọc: 13 phút

---

Người nước ngoài làm việc hưởng lương tại Việt Nam cần tự xác định mình thuộc diện cư trú hay không cư trú trước khi tính số thuế phải nộp. Hai diện này dẫn tới hai cách tính và hai mức thuế chênh nhau rất xa. Khung pháp lý hiện hành là Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 và Thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn thực hiện.[1]

Cùng một mức lương 30 triệu đồng mỗi tháng, người thuộc diện cư trú chỉ nộp khoảng 0,47 triệu đồng sau khi trừ các khoản được giảm. Người không cư trú nộp tròn 6 triệu đồng với thuế suất cố định 20%.[1] Chênh lệch này cho thấy cách tính thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài đứng hay rơi ở bước xác định tư cách cư trú.

## Xác định tư cách cư trú

Bước đầu tiên là trả lời một câu hỏi: người đó có phải cá nhân cư trú hay không. Theo Thông tư 111/2013/TT-BTC, người có mặt tại Việt Nam đủ 183 ngày trở lên là cá nhân cư trú. Con số 183 ngày tính trong năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục từ ngày nhập cảnh đầu tiên.[1] Ngày đến và ngày đi đều được tính là một ngày.[1]

Ngoài tiêu chí số ngày, người nước ngoài vẫn được coi là cư trú nếu có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam. Đó là nơi ghi trong Thẻ thường trú hoặc nơi tạm trú đăng ký cấp thẻ tạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp. Nhà thuê để ở cũng được tính, bao gồm cả khách sạn, nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ hay nơi làm việc. Hợp đồng thuê phải từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế, không phân biệt người lao động tự thuê hay công ty thuê hộ.

Trường hợp dễ nhầm nhất là người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng thực tế có mặt dưới 183 ngày.[1] Theo Công văn 9584/CTHN-TTHT ngày 31/3/2021 của Cục Thuế TP. Hà Nội, người này được xác định là không cư trú và khai theo thuế suất toàn phần khi chứng minh được mình là cư trú của nước khác. Không có Giấy chứng nhận cư trú hoặc bản chụp hộ chiếu thì vẫn bị coi là cư trú tại Việt Nam và khai theo biểu thuế theo bậc.

Hai ví dụ cho thấy cách cơ quan thuế áp dụng. Ông Saito, người Nhật, làm việc tại Việt Nam từ ngày 01/01/2023 đến 30/10/2023 với 200 ngày có mặt, đủ diện cư trú năm đó. Bà Kate, người Anh, ở khách sạn tại Việt Nam hơn 6 tháng kể từ ngày 01/01/2023, cũng thuộc diện cư trú vì khách sạn là nhà thuê để ở.

Cần lưu ý một mốc thay đổi. Từ kỳ tính thuế mới, việc xác định cư trú và không cư trú của người nộp thuế thực hiện theo Nghị định 253/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026, văn bản hướng dẫn Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15. Hai tiêu chí 183 ngày và nơi ở thường xuyên giữ nguyên như quy định cũ.

## Cách tính thuế thu nhập cá nhân người nước ngoài cư trú

Người đã thuộc diện cư trú thì tính thuế lũy tiến từng phần, nghĩa là thu nhập cao hơn thì phần vượt bậc chịu thuế suất cao hơn. Trình tự gồm ba phép. Thu nhập chịu thuế bằng tổng thu nhập trừ các khoản được miễn thuế. Thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế trừ đi phần được giảm trừ.[1] Cuối cùng, thuế phải nộp bằng thu nhập tính thuế nhân thuế suất tương ứng.

Áp dụng đến hết ngày 31/12/2025, biểu thuế 7 bậc theo Thông tư 111/2013/TT-BTC chia thu nhập tính thuế mỗi tháng như sau: đến 5 triệu đồng chịu 5%; trên 5 đến 10 triệu chịu 10%; trên 10 đến 18 triệu chịu 15%; trên 18 đến 32 triệu chịu 20%; trên 32 đến 52 triệu chịu 25%; trên 52 đến 80 triệu chịu 30%; trên 80 triệu chịu 35%. Mức giảm trừ cho bản thân là 11 triệu đồng mỗi tháng, tương đương 132 triệu đồng một năm.[1] Mỗi người phụ thuộc được trừ thêm 4,4 triệu đồng mỗi tháng theo Nghị quyết 954/2020/UBTVQH14.[1]

Một phép tính mẫu sẽ làm rõ cả trình tự. Ông David, người Canada, nhận lương 30 triệu đồng mỗi tháng, có vợ và một con đi cùng, đóng bảo hiểm 3 triệu đồng mỗi tháng.[1] Số được trừ cộng lại là 11 triệu cho bản thân, cộng 8,8 triệu cho hai người phụ thuộc, cộng 3 triệu bảo hiểm, tổng 22,8 triệu đồng. Thu nhập tính thuế còn 7,2 triệu đồng, rơi vào hai bậc đầu của biểu thuế. Số thuế phải nộp là 5 triệu nhân 5% cộng 2,2 triệu nhân 10%, bằng 0,47 triệu đồng mỗi tháng.[1]

Từ ngày 01/01/2026, biểu thuế được rút gọn còn 5 bậc: đến 10 triệu đồng mỗi tháng chịu 5%; trên 10 đến 30 triệu chịu 10%; trên 30 đến 60 triệu chịu 20%; trên 60 đến 100 triệu chịu 30%; trên 100 triệu chịu 35%. Mức giảm trừ gia cảnh đồng thời tăng lên 15,5 triệu đồng mỗi tháng cho bản thân, tức 186 triệu đồng một năm. Mỗi người phụ thuộc được trừ 6,2 triệu đồng mỗi tháng.[1]

Với quy định mới, nhiều trường hợp thu nhập trung bình sẽ không còn phải nộp thuế. Thử lấy một người cư trú có thu nhập chịu thuế tháng đầu của kỳ tính thuế mới là 30 triệu đồng, đóng bảo hiểm bắt buộc 3 triệu đồng và nuôi hai người phụ thuộc. Số được trừ là 15,5 triệu cộng 12,4 triệu cộng 3 triệu, tổng 30,9 triệu đồng, vượt thu nhập chịu thuế. Thu nhập tính thuế vì thế âm và người này không phải nộp thuế kỳ đó.[1]

## Người không cư trú nộp thế nào

Đường tính thứ hai ngắn hơn nhiều nhưng đắt hơn. Với diện không cư trú, thuế thu nhập cá nhân người nước ngoài được tính bằng thu nhập chịu thuế nhân với thuế suất cố định 20% theo Khoản 1 Điều 18 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Người này không được hưởng giảm trừ gia cảnh cho bản thân hay người phụ thuộc, cũng không phải làm thủ tục quyết toán thuế cuối năm.

Ngoài 20% cho tiền lương, tiền công, thuế suất toàn phần còn thay đổi theo từng loại thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Kinh doanh hàng hóa chịu 1%, kinh doanh dịch vụ 5%, sản xuất, xây dựng, vận tải và kinh doanh khác 2% theo Điều 17. Đầu tư vốn chịu 5% theo Điều 19. Khoản thu từ chuyển nhượng vốn góp bị đánh thuế với thuế suất 20% theo Điều 11. Chuyển nhượng chứng khoán tạm nộp 0,1% trên giá chuyển nhượng từng lần. Trúng thưởng chịu 10% theo Điều 15, thừa kế và quà tặng 10% theo Điều 16, tất cả theo Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Vấn đề nảy sinh khi người không cư trú làm việc đồng thời ở Việt Nam và nước ngoài mà không tách riêng được phần thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Khi người này hiện diện tại Việt Nam, tổng thu nhập phát sinh tại Việt Nam bằng số ngày có mặt ở Việt Nam chia 365 ngày, nhân thu nhập từ tiền lương, tiền công toàn cầu trước thuế, theo Điều 18 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Trường hợp không hiện diện tại Việt Nam, công thức đổi thành số ngày làm việc cho công việc tại Việt Nam chia tổng số ngày làm việc trong năm theo Bộ luật Lao động của Việt Nam, nhân thu nhập toàn cầu. Phần cộng thêm là các khoản thu nhập chịu thuế khác trước thuế phát sinh tại Việt Nam.

Một khoản dễ sót là tiền thuê nhà. Khi công ty chi trả hộ tiền thuê nhà trong nước cho lao động nước ngoài chưa đủ điều kiện cư trú, khoản này tính vào thu nhập chịu thuế theo số thực tế. Mức trần là 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam, phần này chưa tính tiền thuê nhà, điện nước và dịch vụ đi kèm, theo Công văn 51239/CT-TTHT ngày 12/6/2020 của Cục Thuế TP. Hà Nội.

Quay lại phép so sánh ở đầu bài. Ông David với lương 30 triệu đồng mỗi tháng mà không đủ điều kiện cư trú thì số thuế mỗi tháng là 30 triệu nhân 20%, bằng tròn 6 triệu đồng. Thuộc diện cư trú, số thuế của ông chỉ còn 0,47 triệu đồng sau các khoản được trừ.

**Đọc thêm:** [Quản lý tài chính cá nhân bằng Excel để tiết kiệm 10% thu nhập](https://chucmungnammoi.com/tap-chi/quan-ly-tai-chinh-ca-nhan-bang-excel)

## Khoản miễn thuế và lợi ích

Khi tính thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài cư trú, một loạt khoản lợi ích không bị tính vào thu nhập chịu thuế.[1] Các khoản này gồm vé máy bay khứ hồi về nước mỗi năm một lần, học phí con em trừ bậc cấp ba, và chi phí chuyển đến Việt Nam một lần. Đây là những khoản doanh nghiệp thường chi trả hộ trong gói đãi ngộ cho chuyên gia nước ngoài.

Ngoài ra còn có các khoản miễn thuế theo quy định chung: trang phục, hiện vật không vượt quá 5 triệu đồng mỗi người mỗi năm và tiền ăn trưa tối đa 730.000 đồng mỗi tháng. Một số khoản khác cũng nằm ngoài diện chịu thuế như phần lương làm thêm giờ, ban đêm cao hơn ban ngày, tiền lương hưu, học bổng và tiền bồi thường bảo hiểm.

Riêng công dân của nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam và là cá nhân cư trú tại Việt Nam còn được hưởng một quyền lợi riêng về thời gian tính thuế. Nghĩa vụ thuế tính từ tháng đến Việt Nam lần đầu đến tháng kết thúc hợp đồng và rời Việt Nam, tính đủ theo tháng, và không phải làm thủ tục xác nhận lãnh sự.

![Hai người đàn ông ngồi cạnh bàn gỗ dưới ánh nắng qua cửa sổ, trên kệ có mô hình máy bay, túi vải, phong bì trắng](https://chucmungnammoi.com/covers/thue-thu-nhap-ca-nhan-cho-minh-hoa-2-mnis0q-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa*

## Khấu trừ tại nguồn và hợp đồng ngắn

Trên thực tế, phần lớn thuế thu nhập cá nhân người nước ngoài không do người lao động tự nộp mà bị khấu trừ ngay tại nguồn bởi tổ chức trả thu nhập. Cách khấu trừ phụ thuộc vào thời gian làm việc. Với người làm việc tại Việt Nam từ 183 ngày trong năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập tạm khấu trừ theo biểu lũy tiến từng phần; dưới 183 ngày thì khấu trừ theo biểu thuế toàn phần.

Loại hợp đồng cũng quyết định cách khấu trừ. Người cư trú ký hợp đồng lao động từ 3 tháng trở lên thì tính thuế theo bậc thu nhập; hợp đồng thời vụ dưới 3 tháng thì bị khấu trừ theo biểu toàn phần. Chuyên gia ký hợp đồng thời vụ 2 tháng sẽ bị khấu trừ theo biểu toàn phần ngay tại nguồn, khác với đồng nghiệp cùng công ty ký hợp đồng một năm.

Có những trường hợp người lao động phải trực tiếp khai thuế tại cơ quan thuế thay vì qua công ty: người không làm việc đủ 12 tháng trong năm, hoặc có thêm thu nhập từ tiền lương, tiền công của công ty khác. Lúc này cần xin giấy xác nhận thu nhập và giấy xác nhận số thuế đã khấu trừ tại nguồn từ từng nơi trả lương. Đây là nghĩa vụ cá nhân, không nằm trong bảng quyết toán của công ty nào. Người cư trú nhận lương từ đại sứ quán, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan lãnh sự tại Việt Nam mà không bị khấu trừ thuế, hoặc nhận thu nhập từ bên ngoài nước, cũng phải tự khai theo quý với cơ quan thuế.

## Quyết toán và thời hạn

Quyết toán là bước cuối của nghĩa vụ thuế trong năm. Cuối năm tính thuế, cá nhân cư trú phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân của mình trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tính thuế; nghĩa vụ này không áp dụng cho diện không cư trú.

Người nước ngoài kết thúc hợp đồng và rời Việt Nam giữa năm mà chưa kịp quyết toán có thể ủy quyền cho đơn vị khác quyết toán thay, với thời hạn 45 ngày kể từ ngày xuất cảnh. Việc ủy quyền này giúp người lao động không phải quay lại Việt Nam chỉ để nộp hồ sơ.

Những người thuộc diện tự khai nêu ở mục trên cần chuẩn bị giấy xác nhận thu nhập và giấy xác nhận số thuế đã khấu trừ tại nguồn từ nơi trả lương, rồi nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan thuế.

![Một người đàn ông từ phía sau kéo vali đi bộ trên phố vắng lúc chạng vạng](https://chucmungnammoi.com/covers/thue-thu-nhap-ca-nhan-cho-minh-hoa-3-of7zes-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa*

## Kiểm tra trước khi rời Việt Nam

Ba lỗi khiến người nước ngoài mất thời gian và tiền bạc khi rời Việt Nam: xuất cảnh khi chưa quyết toán thuế, không giữ lại giấy xác nhận thu nhập từ công ty, và không chuẩn bị chứng cứ về tư cách cư trú của nước khác khi có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày.

Ví dụ cuối cùng cho thấy hậu quả của việc thiếu chứng cứ. Một người có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng chỉ có mặt 100 ngày trong năm, khi không xuất trình được giấy chứng nhận cư trú của nước khác, sẽ bị tính là cư trú tại Việt Nam và phải khai theo biểu thuế theo bậc.

Việc cần làm trước chuyến bay về nước là liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp nơi làm việc để xác nhận tình trạng quyết toán, đồng thời xin đủ giấy xác nhận thu nhập và số thuế đã khấu trừ từ mỗi nơi từng trả lương.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

1. [Thuế Thu Nhập Cá Nhân Cho Người Nước Ngoài Tại Việt Nam: Cách Tính & Các Lưu Ý](https://eiv.edu.vn/thue-thu-nhap-ca-nhan-cho-nguoi-nuoc-ngoai/) (eiv.edu.vn)
2. [Cách tính thuế thu nhập cho cá nhân nước ngoài kể từ năm 2024](https://vietluat.vn/cach-tinh-thue-thu-nhap-ca-nhan-cho-nguoi-nuoc-ngoai.html) (vietluat.vn)

---

*Nội dung mang tính tham khảo, không thay thế tư vấn chuyên môn.*
