# Cách phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh qua ba bước

> Tác giả bài văn mẫu Tâm Phương trên doctailieu.com gọi Sơn Tinh, Thủy Tinh là thần thoại hay bậc nhất của kho tàng truyện cổ Việt Nam; bài phát biểu cảm nghĩ hay nhất là bài biết kể cuộc đấu của hai vị thần rồi chạm đến ý nghĩa của truyện.

- Bài gốc: <https://chucmungnammoi.com/tap-chi/cach-phat-bieu-cam-nghi-ve-truyen-son>
- Chuyên mục: Phong tục
- Tác giả: Ban Phong tục
- Ngày đăng: 31/10/2026
- Chủ đề: Truyện dân gian, Soạn Sơn Tinh Thủy Tinh, Ngữ văn lớp 6
- Thời gian đọc: 13 phút

---

Một học sinh lớp 6 cầm đề bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, đọc đi đọc lại truyện mà vẫn chưa biết mở đầu bằng câu nào. Truyện thì quen thuộc, nhưng biến cảm nghĩ thành lời nói trước lớp lại là chuyện khác.

Cốt lõi của truyện nằm ở hai điều: giải thích lũ lụt hằng năm ở đồng bằng Bắc Bộ và thể hiện khát vọng chế ngự thiên tai của người Việt xưa. Bài phát biểu hay là bài đi được cả hai lớp ý ấy, trong ba phần mở bài, thân bài, kết bài rõ ràng. Mỗi lớp học, mỗi tài liệu tham khảo có chỗ khác nhau, nên trước khi soạn Sơn Tinh Thủy Tinh thành bài nói, cần chọn cho mình một bản kể để bám theo.

## Bước 1: Mở bài nêu sức hấp dẫn

Mở bài chỉ cần hai đến ba câu, nhưng hai câu đầu phải nói được truyện hấp dẫn ở chỗ nào. Cách làm an toàn là giới thiệu Sơn Tinh, Thủy Tinh là truyền thuyết tiêu biểu thuộc kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Sau đó nêu ngay điều khiến nó khác các truyện khác: chuyện kì ảo ấy là cách người xưa lý giải vì sao mưa lũ cứ trở về đồng bằng Bắc Bộ mỗi năm.

Theo cách hiểu trong sách, truyền thuyết là truyện dân gian có yếu tố hoang đường, kì ảo, kể về sự kiện hay nhân vật liên quan đến lịch sử, hoặc giải thích nguồn gốc phong tục, cảnh vật theo quan niệm của nhân dân. Nêu được khái niệm này trong mở bài, lời phát biểu đã có vẻ vững vàng.

Một lớp ý nữa đáng đưa vào mở bài là công lao dựng nước của các vua Hùng, vì truyện diễn ra vào đời Hùng Vương thứ mười tám, khi kinh đô còn ở Phong Châu. Có thể viết câu mở kiểu như sau: “Trong kho tàng truyện cổ Việt Nam, Sơn Tinh, Thủy Tinh hấp dẫn lạ thường: chuyện hai vị thần tranh cưới công chúa Mị Nương vừa lý giải cơn lũ hằng năm, vừa tôn vinh công lao các vua Hùng”. Từ câu ấy, người nghe đã biết bài sẽ đi về đâu.

Điều nên tránh ở mở bài là kể lại truyện từ đầu. Kể dài ở phần này thì đến thân bài không còn gì để nói. Người nghe cũng mất cảm giác đang nghe một bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh.

## Bước 2: Thân bài của bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh

Thân bài là phần dài nhất, làm được khi chia thành ba lớp: kể lại cuộc so tài, bình về tài năng hai vị thần, rồi nêu thái độ của người xưa qua hình tượng. Cả ba lớp đều lấy từ bản truyện trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 6, tập 1, bài 3 sách Kết nối tri thức. Trước hết cần nhớ đúng các chi tiết gốc.

Trước hết là phần kể chuyện. Vua Hùng kén rể cho công chúa Mị Nương, hai vị thần cùng đến cầu hôn một lúc, nên nhà vua ra điều kiện thách cưới: ai mang đủ lễ vật đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Sính lễ theo văn bản sách giáo khoa gồm “một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi”. Sáng hôm sau, trời còn tờ mờ, Sơn Tinh đã mang đủ lễ vật đến đón Mị Nương về núi; Thủy Tinh đến sau. Chi tiết ai đến trước, ai đến sau cần viết chính xác, vì nhiều bản tóm tắt trên mạng ghi ngược. Thủy Tinh tức giận đuổi theo, hô mưa gọi gió, nước sông dâng cao chìm thành Phong Châu; Sơn Tinh không nao núng, nước dâng đến đâu chàng nâng núi cao lên đến đó. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời, cuối cùng Sơn Tinh vẫn vững vàng, còn sức Thủy Tinh đã kiệt, phải rút quân. Nhưng hằng năm cứ đến dịp ấy, Thủy Tinh lại dâng nước đánh Sơn Tinh để giành lại Mị Nương. Dân gian còn gắn cho trận đánh ấy một mốc quen thuộc: khoảng tháng bảy, tháng tám hằng năm, Thủy Tinh lại dâng nước gây mưa to gió lớn. Ghi được mốc này, lớp kể của bài có dấu hiệu thời gian cụ thể, dễ liên hệ với mùa lũ mà người nghe đều biết.

Sau phần kể là lượt bình về tài năng hai vị thần, và đây là chỗ cho thấy cảm nghĩ riêng của người viết. Sơn Tinh vẫy tay về phía đông thì nổi cồn bãi, về phía tây thì hiện ra dãy núi đồi; Thủy Tinh phô bày sức mạnh tàn bạo: gió bão rung chuyển đất trời, nước sông hồ dâng cuồn cuộn, ngập đồng ruộng, mùa màng, nhà cửa. Hai cách thể hiện sức mạnh ấy nói lên hai bản chất: một bên dựng nên, một bên tàn phá. Chi tiết kì ảo trong truyện tạo nên không gian mơ hồ, tăng sự hấp dẫn, đồng thời thể hiện ý chí, sức mạnh của từng nhân vật. Lời bình cần chỉ ra điều đó thay vì chỉ khen “hay” chung chung.

Lớp cuối cùng của thân bài là thái độ của người xưa. Sơn Tinh là hiện thân của người Việt cổ cần cù đắp đê phòng chống lũ lụt, là ước mơ chiến thắng thiên tai; Thủy Tinh tuy có năng lực phi thường nhưng tạo ra bão lũ, nên bị coi là hiện thân của kẻ hung ác. Mấy ngàn năm trước, khi tổ tiên người Việt rời vùng rừng núi xuống sinh sống ở đồng bằng Bắc Bộ, nạn lụt năm nào cũng đến, nên hình tượng hai vị thần chính là cách dân gian đặt tên cho thiên tai và cho chính con người mình. Một dị bản kể rõ hơn việc ấy: cư dân nước Văn Lang chung sức giúp Sơn Tinh, người khỏe mạnh đào đất đắp thành đê, từ đó ra đời những con đê chống lụt còn thấy đến hôm nay. Thần trống đồng thiêng hiện về giục giã, cổ vũ mọi người ra trận. Ở chân núi, dân chúng đóng dãy cọc chắn nước, vừa đánh trống, gõ cối, reo hò tiếp sức cho Sơn Tinh; quân Thủy Tinh chết nhiều, xác ba ba và thuồng luồng nổi đầy lòng sông. Dị bản này củng cố đúng lớp ý trên: vị thần thắng trận không phải một mình, mà thắng cùng cả cộng đồng.

Một chi tiết đáng đưa vào làm điểm nhấn cho lời bình là gà chín cựa. Trong ba thứ lễ vật đặc biệt, voi chín ngà và ngựa chín hồng mao là loài không có thật, riêng gà chín cựa là giống gà vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Đó là giống gà rừng thích gần gũi con người, thông minh, có thể nuôi giữ nhà; gà trống trưởng thành chỉ nặng chừng 8 lạng, gà mái nhẹ hơn, bay như chim và rất hiếu chiến. Truyền thuyết xưa cho rằng gà phải có vừa tròn chín cựa mới có giá trị, chuyên dùng để tiến vua; ngày nay, con gà đủ chín cựa có thể bán được gần 100 triệu đồng. Người ta còn truyền rằng giống gà này xuất hiện đầu tiên ở bản Cỏi của người Dao, giữa đại ngàn Vườn Quốc gia Xuân Sơn thuộc Thanh Sơn, Phú Thọ. Khi viết được câu như “trong số lễ vật hoang đường ấy, gà chín cựa là sinh vật có thật, gà trống chỉ nặng chừng 8 lạng mà bay như chim”, lời bình của bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh lập tức có một lớp sâu mà người nghe không quên.

Lời bình còn có thể chạm thêm một lớp văn hóa: sính lễ thách cưới phản ánh nét tập tục cưới xin của người Việt. Sự trao đổi lễ vật bày tỏ lòng kính trọng của nhà trai với nhà gái và khả năng chăm lo hạnh phúc cho cô dâu. Nhìn lễ vật theo góc này, người nghe thấy điều kiện của vua Hùng đâu chỉ là thử thách kì ảo, mà mang cả nếp sống của người xưa. Cũng từ đó mà ra một nhận định đáng nhớ: cả sính lễ đều là sản vật của đồng ruộng, núi rừng, nên kẻ thắng cuộc tất nhiên là Sơn Tinh. Vua Hùng không nói ra, nhưng điều kiện thách cưới đã ngầm chọn người con của đất liền thay cho vua của nước.

Cuối cùng, một câu về bối cảnh sẽ làm lớp bình sâu hơn: từ thuở đầu, đây là thần thoại cổ kể về núi Tản Viên, dòng lịch sử sau đó đưa nó thành truyền thuyết, với kinh đô thời đó ở Phong Châu, nay là vùng Bạch Hạc, Việt Trì, Phú Thọ. Nhắc được chỗ này, bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh cho thấy người viết hiểu rằng truyện đâu chỉ là chuyện hai chàng trai tranh cưới: đó là một mảnh ký ức của đất nước thời dựng nước.

![Trên bàn gỗ tối có mấy nếp gói lá xanh buộc dây và một đĩa lá với hạt tròn màu nâu, sáng dịu từ cửa sổ](https://chucmungnammoi.com/covers/phat-bieu-cam-nghi-ve-truyen-minh-hoa-1-uqfpn0-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Nguồn gốc và trí tưởng tượng trong truyện

Trước khi phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, người viết nên hiểu truyện từ đâu. Từ thuở đầu, đây là thần thoại cổ gắn với núi Tản Viên; về sau, lịch sử hóa đã đưa nó thành truyền thuyết như người ta đọc trong sách giáo khoa hôm nay. Sự chuyển mình ấy lý giải vì sao trong truyện vừa có hình ảnh hai vị thần tài phép, vừa có bóng dáng của một thời dựng nước với kinh đô Phong Châu.

Trí tưởng tượng của người xưa thể hiện rõ nhất ở những chi tiết kì ảo. Sơn Tinh vẫy tay là cồn bãi, núi đồi mọc lên; Thủy Tinh hô mưa gọi gió là nước dâng ngập thành. Những hình ảnh ấy vừa làm nên không gian mơ hồ, lôi cuốn, vừa đo được ý chí và sức mạnh của từng nhân vật. Người viết bài cảm nghĩ biết chỉ ra công dụng của chi tiết kì ảo thì lời bình mới vượt khỏi mức kể lại.

Cách tưởng tượng ấy còn phục vụ một mục đích rất thực: lý giải mưa xối xả, bão lũ diễn ra đều đặn hằng năm, tàn phá nhân dân vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Người xưa chưa có khoa học, nên họ dùng câu chuyện để trả lời vì sao lũ về. Đó chính là sức sống của truyện: một câu trả lời cho thiên tai, gói trong một cuộc tranh cưới.

## Bước 3: Kết bài liên hệ hôm nay

Kết bài làm hai việc: khẳng định giá trị của truyện, rồi liên hệ với cuộc sống hôm nay. Phần khẳng định chỉ cần một câu gọn, kiểu “Câu chuyện tồn tại đến nay như bài học nhắc thế hệ sau luôn chiến đấu, đối mặt với thiên tai”. Câu này đủ nặng để chốt, không cần thêm lời khen.

Phần liên hệ mới là chỗ kết bài hay hay dở. Truyện ra đời từ nạn lụt của đồng bằng Bắc Bộ, nên cái kết tự nhiên nhất là hỏi: người Việt hôm nay đã làm gì với cơn lũ ấy. Câu trả lời nằm ngay trong đời sống: nhờ công trình thủy lợi và đê điều, hàng năm bão lũ vẫn về nhưng cuộc sống ngày một đầy đủ, ấm no. Con cháu của “Sơn Tinh” hôm nay đã biến ước mơ chế ngự thiên tai thành hiện thực bằng những công trình thủy lợi, thủy điện. Đặt câu liên hệ ấy cạnh hình tượng Sơn Tinh nâng núi cao dần theo mực nước để chặn lũ, người nghe thấy truyện cổ vẫn đang sống.

Một chi tiết ít bài phát biểu cảm nghĩ về truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh nào nhắc tới là ngôi đền Và. Tục truyền nhân dân dựng đền ấy để ghi lại chiến công của Sơn Tinh. Đền nay vẫn còn, nằm cách thị xã Sơn Tây khoảng hai cây số, theo tên gọi địa danh cũ trước ngày 1/7/2025. Đưa được chi tiết này vào, kết bài không dừng ở lời khen chung mà chỉ ra một nơi cụ thể mà người Việt vẫn đến để nhớ về vị thần ấy.

Kết bài cũng nên giữ ngắn, khoảng ba đến năm câu, vì phần cảm nghĩ đã nằm ở thân bài. Câu cuối dừng ở hình ảnh đê điều hay đền Và là đủ, không cần thêm lời chúc hay lời răn.

![Một học sinh nam áo trắng cúi đầu viết bài bằng bút chì vào vở mở trên bàn gỗ, cạnh đó có sách dày và cốc nước](https://chucmungnammoi.com/covers/phat-bieu-cam-nghi-ve-truyen-minh-hoa-2-yofowi-1200x800.webp)

*Ảnh minh họa tạo bằng trí tuệ nhân tạo*

## Chọn bản kể để bám theo

Trước khi viết, cần biết mình đang bám bản kể nào, vì Sơn Tinh, Thủy Tinh có nhiều bản khác nhau. Học sinh lớp 6 theo sách Kết nối tri thức làm việc với bản truyền thuyết chia ba phần: từ đầu đến “mỗi thứ một đôi” là đoạn vua Hùng kén rể; tiếp đến “rút quân” là cuộc giao chiến giữa hai vị thần; phần còn lại là sự trả thù hằng năm của Thủy Tinh và chiến thắng của Sơn Tinh. Ba phần ấy cũng chính là ba lớp ý của thân bài.

Học sinh lớp 9 sách Chân trời sáng tạo gặp bài 4 cùng tên, nhưng đó là bản thơ của Nguyễn Nhược Pháp, không phải bản truyền thuyết. Trong bản thơ, sính lễ được kể theo lối khác hẳn: voi xám đếm theo năm chục, kèm theo gấm vóc, bạc, vàng và các vật quý hiếm như sừng tê, sừng hươu. Sơn Tinh ở đó có ba mắt và cưỡi phi bạch hổ oai phong, còn Thủy Tinh râu ria xanh rì, cưỡi rồng. Ai vô tình đưa chi tiết của bản thơ vào bài văn theo bản truyền thuyết sẽ dễ bị nhận ra là trộn lẫn hai bản kể, nên khi soạn Sơn Tinh Thủy Tinh, việc đầu tiên là mở đúng trang sách giáo khoa của khối lớp mình.

Chênh lệch giữa các bản kể còn thể hiện ở cả tên gọi nhân vật. Theo Việt sử cương mục, Sơn Tinh có tên là Hương Lang; theo Truyện cổ và truyền thuyết nước Nam thì là Kì Mạng; một số truyền thuyết thời Hùng Vương cho là Nguyễn Tuấn. Thực ra hai nhân vật chỉ là nhân vật thần thoại, không nhất thiết có tên họ chính xác, nên bài phát biểu không cần khẳng định tên thật của ai. Trong một dị bản khác, vua nước Tây Âu từng đem vàng bạc, châu báu dạm hỏi cưới Mị Nương nhưng bị vua Hùng từ chối theo lời khuyên các Lạc Hầu. Việc ấy làm quan hệ giữa nước Văn Lang và Tây Âu xấu đi. Chuyện này cho thấy truyện có nhiều nhánh kể, và bài phát biểu chỉ cần bám một bản.

Còn các bản dân gian thì có chỗ chênh lệch, ví dụ “một trăm” hay “hai trăm nệp bánh chưng” giữa các nguồn. Chênh lệch ấy phản ánh các bản kể khác nhau truyền miệng từ đời này sang đời khác, nên không rõ tác giả là ai. Khi gặp chỗ chênh lệch ấy, cách xử lý gọn là bám theo bản kể trong sách giáo khoa lớp 6, vì đó là bản đề bài đang hỏi tới.

Bài viết thuộc Góc đọc Xuân của [Chúc Mừng Năm Mới](https://chucmungnammoi.com/).

## Nguồn tham khảo

- [Nhà Tây Sơn](https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_T%C3%A2y_S%C6%A1n) (Wikipedia)
