Tử vi & con giáp
Các cách cục trong tử vi: cách đọc, độ hiếm và điều kiện thành cách
Cách cục tử vi là tổ hợp nhiều sao cùng đứng thành một thế cục riêng trên lá số, nên người xem luận cả đội hình sao thay vì đọc từng ngôi sao lẻ. Một từ điển về cách cục liệt kê 58 cách, chia thành 12 đại cát cách, 26 cát cách, 4 cách trung tính và 16 hung cách đáng cẩn trọng, nhiều cách kèm độ hiếm trên 100.000 lá số mẫu.
Hai người cùng có sao Tử Vi trấn Mệnh mà số đời khác hẳn nhau, nhiều khi lệch nhau ở các cách cục trong tử vi: tổ hợp nhiều sao cùng đứng thành một thế cục riêng trên lá số. Có cách cục, người xem phải luận cả đội hình sao chứ không đọc từng ngôi sao lẻ. Một từ điển về cách cục liệt kê 58 cách, chia thành 12 đại cát cách, 26 cát cách, 4 cách trung tính cần điều kiện và 16 hung cách, gặp thì nên cẩn trọng.
Việc các sao ghép thành bộ không phải ngẫu nhiên. 14 chính tinh luôn được an vào 12 cung theo luật cố định, nên trong mỗi tam hợp, các chính tinh cứ theo bộ mà xuất hiện, không thể ghép tùy ý. Cách cục trước hết là kết quả của thuật toán an sao, rồi mới là kinh nghiệm đúc kết của người xưa khi gán ý nghĩa cho từng bộ.
Người ta chia cách cục thành quý cách và phá cách. Quý cách là cách tốt, tạo thế thuận lợi. Phá cách là cách có khung tốt nhưng bị yếu tố tiêu cực kéo xuống, nên không phát huy được như mong đợi. Muốn biết lá số mình có cách gì, bạn làm theo hai bước dưới đây.
Bước 1: Nắm điều kiện thành cách
Một cách cục chỉ đáng tin khi hội đủ vài điều kiện. Trước hết phải có đủ những sao làm nên cách đó, đứng đúng vị trí quy định.
Tiếp theo là cát tinh trợ lực. Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt là những sao chính trong việc này. Thiếu chúng, sao lãnh đạo dễ thành cô quân: có uy mà không có người phò tá.
Ba Hóa cũng phải phối hợp đúng chỗ. Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa đi cùng nhau hợp lý thì cách mới vững. Đặt sai chỗ, chúng thành vô nghĩa.
Độ sáng của sao quyết định nửa phần còn lại. Sao ở Miếu, Vượng, Đắc địa thì phát huy; rơi vào Hãm địa thì mất lực. Cuối cùng, cách phải không bị Tuần Không hay Triệt Không chặn ngang.
Thiếu cát tinh, gặp Hóa Kỵ, bị lục sát vây hãm, sao hãm địa, hoặc Tuần Triệt rơi trúng đều làm cách giảm sức. Đây là lý do cùng một tên cách mà người này thành đạt, người kia lận đận.
Có trường hợp cách vẫn thành nhưng phải chờ thời gian. Cách Vũ Tham với Vũ Khúc và Tham Lang hội Mệnh mang câu cổ “Vũ Tham bất phát thiếu niên nhân”, nghĩa là tuổi trẻ chưa phát, trung niên về sau mới phát lớn.
Bước 2: Xét tam phương tứ chính
Cách cục không đọc theo một cung đơn lẻ. Phải xét cả tam phương tứ chính: cung chính cộng hai cung tam hợp và đối cung xung chiếu. Một cách chỉ thành hình khi các sao cần thiết đứng đúng vị trí trong phạm vi bốn cung này.
Ví dụ cụ thể là Tử Phủ Triều Viên. Cách này bị phá khi Tuần Không, Triệt Không chặn đường. Nó cũng bị phá khi Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ kéo vào quá nhiều. Khi đó kho lẫm Thiên Phủ dễ hao tán, uy quyền Tử Vi bị cản trở, tiền tài tụ tán thất thường.
Một chi tiết dễ bỏ qua: Tuần Không và Triệt Không không phân biệt cát hay hung. Sao nào rơi vào cũng yếu đi: sao tốt giảm phần tốt, sao xấu cũng bớt phần xấu. Ngay Tứ Hóa cũng có thể không phát huy khi bị Tuần, Triệt che.

Các cách cục phổ biến kèm độ hiếm
Độ hiếm cho biết cách bạn có là phổ biến hay hiếm gặp. Từ điển cách cục tử vi thống kê trên 100.000 lá số mẫu. Danh sách các cách cục trong tử vi dưới đây xếp theo nhóm ý nghĩa, kèm tỉ lệ để bạn dễ đối chiếu.
Cách Tam Kỳ Gia Hội có Hoá Lộc, Hoá Quyền, Hoá Khoa cùng hội Mệnh. Đây được xem là đại cát cách bậc nhất Tử Vi: công danh, tài lộc, quý nhân đều vẹn toàn, khoảng 4,8% lá số có.
Cách Xương Khúc Giáp Mệnh có Văn Xương và Văn Khúc ôm hai bên cung Mệnh. Người có cách này thường thông minh, dung nhan sáng sủa, giỏi văn chương, hợp theo văn, dạy học, nghiên cứu hay làm nghệ thuật, khoảng 2,7%.
Các cách giáp Mệnh khác cũng theo lối kẹp hai bên cung Mệnh. Tả Hữu Giáp Mệnh có Tả Phù, Hữu Bật ôm lấy Mệnh: quanh mình suốt đời có người giúp, gặp dữ cũng hóa lành, hợp với quan trường và việc quản trị, khoảng 2,8%. Khôi Việt Giáp Mệnh có Thiên Khôi, Thiên Việt đứng kẹp, lúc khó luôn có người giúp, lợi thi cử, cầu chức, khoảng 3,3%.
Cách Dương Lương Xương Lộc có Thái Dương, Thiên Lương, Văn Xương, Lộc Tồn cùng hội Mệnh. Người xưa gọi là cách khoa bảng: học vấn giỏi, thi cử thuận, hợp theo học thuật, giáo dục, nghiên cứu, khoảng 2,4%. Khoa Quyền Song Hội có Hoá Khoa và Hoá Quyền cùng hội Mệnh, vừa có danh vừa có quyền, hợp con đường chuyên gia có thực quyền như bác sĩ, luật sư, giáo sư, khoảng 8%.
Nhóm liên quan tiền bạc nổi bật với Lộc Mã Giao Trì. Lộc Tồn hoặc Hoá Lộc cùng Thiên Mã giao hội, động trong sinh tài, hợp buôn bán, ngoại thương, đi xa lập nghiệp, khoảng 25% lá số có. Song Lộc Triều Viên có Hoá Lộc và Lộc Tồn cùng hội Mệnh, cổ thư nói là một đời tài lộc dồi dào, khoảng 11%, nhưng kỵ Không Kiếp đồng cung vì tiền vào ra như nước.
Khác với cách ấy, Song Lộc Giáp Mệnh có Hoá Lộc và Lộc Tồn kẹp hai bên cung Mệnh. Hai nguồn tài giáp thân, thường nhờ gia đình, anh em hoặc đối tác mang lại; lộc đến từ người bên cạnh chứ không do tự thân.
Còn Minh Lộc Ám Lộc thì cung Mệnh có Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, ngầm hợp với sao còn lại tại cung khác. Ví dụ sinh năm Giáp, Liêm Trinh và Tham Lang tại Hợi, Liêm Trinh hóa Lộc, tại cung Dần có Lộc Tồn ngầm hợp, Mệnh đóng tại Dần hoặc Hợi. Chỉ khi Hóa Lộc tại cung Mệnh, được Lộc Tồn tại cung Điền Trạch ngầm hợp mới là tốt.
Về nhóm quyền uy, Tử Phủ Triều Viên có Tử Vi và Thiên Phủ cùng chầu về Mệnh từ tam hợp hoặc xung chiếu. Cung Mệnh không có hai sao này tọa thủ, và tam phương tứ chính cần hội thêm Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt. Đếm trên 2.000 lá số ngẫu nhiên, 2,4% lá số đủ điều kiện không bị phá, 9,8% đủ điều kiện nhưng bị Tuần hoặc Triệt chặn.
Tử Phủ Đồng Cung có Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung tại Mệnh. Cách này cần Tả Hữu phụ trợ mới thành đại cách, độ hiếm khoảng 18%. Còn Nguyệt Sinh Thương Hải có Thái Âm toạ Mệnh tại cung Tý, đắc địa bậc nhất, độ hiếm khoảng 0,85%.
Thất Sát Triều Đẩu đòi hỏi Thất Sát làm chủ cung Mệnh. Mệnh phải nằm ở một trong bốn cung Tý, Ngọ, Dần, Thân. Đồng thời các sao tốt phải chiếu về: Lộc Tồn, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, cùng Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt. Vị trí đóng cũng phân biệt đẳng cấp: Thất Sát sáng nhất tại cung Thân, tiếp đó là Tý và Ngọ. Mệnh đóng ở Thân hay Ngọ thì gọi là Triều đẩu, tức chầu về Bắc Đẩu; đóng ở Dần hay Tý thì gọi là Ngưỡng đẩu, trông lên Bắc Đẩu từ xa.
Theo quan niệm, người có cách này theo nghiệp võ sẽ hiển quý, thống lĩnh đông đảo quân đội. Không đi đường võ thì cũng là người sáng lập công ty, nhân tài kinh doanh. Nhưng cách này mang sát khí: bản thân phát đạt ắt khiến một số người khác gặp tai họa. Gặp cát tinh mà lại hội hung tinh là phá cách, lên voi xuống chó, chóng phất chóng bại.
Nhóm âm dương có Nhật Nguyệt Đồng Lâm: Thái Dương và Thái Âm cùng đóng chung một cung, chỉ xảy ra ở đúng 2 trong 12 cung là Sửu hoặc Mùi. Sách xưa xem là cách cân bằng âm dương hiếm có. Nó vừa có yếu tố phô bày ra ngoài như công danh, quan hệ xã hội, vừa có yếu tố tích lũy âm thầm như tài sản, đời sống nội tâm, cùng tác động lên một cung. Theo kiểm chứng trên 800 lá số ngẫu nhiên, hai sao đồng cung ở khoảng 17,5% số lá số thử và vị trí luôn luôn là cung Sửu hoặc cung Mùi.
Cách Nhật Nguyệt Giáp Mệnh có Thái Dương và Thái Âm đứng kẹp hai bên cung Mệnh. Theo quan niệm, người có cách này sống ngay thẳng, sáng sủa, cả đời được quý nhân nâng đỡ. Nhưng hai sao phải không lạc hãm thì mới là chân cách.
Hai cách gắn với cung Mệnh trống thường bị nhầm với nhau. Minh Châu Xuất Hải có Mệnh vô chính diệu, đối cung Thiên Di là Thái Dương và Thái Âm cùng chiếu về. Người có cách này sinh ra bình thường mà hậu thiên nỗ lực vươn lên, hợp ly hương lập nghiệp, có thể đại phú quý, khoảng 0,91% lá số có.
Còn Mệnh Vô Chính Diệu đơn thuần là cung Mệnh không có chính tinh, phải mượn sao cung đối. Đời nhiều biến động, bản ngã mờ, dễ chịu ảnh hưởng ngoại cảnh; có cát tinh hoặc quý nhân cứu giải thì hóa hay, không có thì long đong, khoảng 16% lá số có.
Cuối cùng là nhóm cách gắn với sao phụ. Hỏa Tham, tức Tham Lang gặp Hỏa Tinh, và Linh Tham, tức Tham Lang gặp Linh Tinh, được xem là cách phú quý, thành công đến bất ngờ. Với Tham Hỏa Tương Phùng, Hỏa Tinh và Tham Lang cùng trấn thủ cung Mệnh là tốt nhất, tiếp đó là nằm tại cung tam hợp. Nếu Tham Lang tại bốn cung tứ mộ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi mà gia hội Lộc Tồn, ba Hóa, Tả Phụ, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì là cách cực tốt, chủ đại phú đại quý.
Đọc thêm: Tử vi ngày 31 tháng 10 gọi tên ba chòm sao may mắn nhất
Bốn bộ chính tinh quen thuộc
Ngoài các cách cục kể trên, tử vi còn có bốn bộ chính tinh quen thuộc, chia lá số thành bốn nhóm tính chất lớn.
Cách Tử Phủ Vũ Tướng gồm Tử Vi, Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thiên Tướng kèm Liêm Trinh. Người thuộc bộ này sống khá ổn định, có đầu óc quản trị, coi trọng cam kết và địa vị. Họ làm nên nhất khi được xây dựng mọi thứ bài bản, có kế hoạch.
Cách Sát Phá Tham gồm Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, thuộc nhóm biến động, khai phá, dám thay đổi, nhiều thăng trầm, cần học giữ nhịp. Hai bộ này là hai mặt của cùng một vòng: trên cùng một lá số, chúng nằm ở hai trục đối nhau. Một bên nổi trội ổn định thì bên kia là trục biến động.
Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương gồm Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương. Đây là nhóm ôn hòa, trí tuệ, tham mưu, trọng bình yên, hợp chuyên môn và công việc ổn định.
Cách Cự Nhật gồm Cự Môn và Thái Dương, thiên về ngôn ngữ và ánh sáng, hợp truyền thông, giảng dạy, đối ngoại. Cách này rõ nhất khi Thái Dương sáng; nếu rơi vào Hãm địa thì lực giảm. Người muốn đối chiếu thêm quan hệ tuổi có thể xem mục Tuổi hợp khắc.

Đọc kết quả cho bình tĩnh
Cùng một cái tên cách cục, biểu hiện có thể khác hẳn nhau tùy ba thứ. Thứ nhất là các sao đi kèm cát hay sát. Thứ hai là độ sáng của sao, Miếu Vượng hay Hãm địa. Thứ ba là có bị Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ chen vào không. Vì thế đừng vội mừng khi nghe tên cách đẹp, cũng đừng vội lo khi nghe tên cách xấu.
Dồn quá nhiều sao quyền lực vào một chỗ cũng sinh mặt trái. Ví dụ Tử Vi đi cùng Hóa Quyền lại thêm Thất Sát thì sức ép quyền lực dễ thành lấn át, độc đoán.
Cách cục ở cung Mệnh cũng không nói hết lá số. Cung Phúc Đức chỉ tài sản dòng họ, ông bà; cung Phụ Mẫu chỉ tài sản cha mẹ, giúp đỡ đáng kể trong giai đoạn lập nghiệp buổi đầu. Cung Thân tượng trưng hậu vận từ khoảng 30 tuổi trở đi, có thể xem là cung Tài thứ hai.
Các cách cục trong tử vi nhắc trong bài đều có gốc trong cổ thư. Muốn tra sâu hơn, bạn có thể tìm ba bản thường được dẫn: Tử Vi Đẩu Số Tân Biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, Tử Vi Hàm Số của Nguyễn Phát Lộc, Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư của La Hồng Tiên (bản dịch tiếng Việt).
Quan niệm về cách cục tử vi chỉ để tham khảo, không phải bản án. Việc đáng làm là những chuyện không cần sao hạn: rơi vào bộ Sát Phá Tham thì học cách giữ nhịp, rơi vào bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thì rèn chuyên môn. Trước khi tin lời phán của ai đó về lá số, bạn có thể tự dò cách cục trên nền tảng Chúc Mừng Năm Mới trong mục Tử vi 12 con giáp, đối chiếu độ hiếm của từng cách để biết lá số mình phổ biến hay hiếm gặp.
Lập lá số. Nhập ngày giờ sinh, lá số tính ngay trên máy của bạn, không gửi đi đâu.